Chính sách và cuộc sống

Điều phối nguồn lực, nâng chất lượng dòng vốn đầu tư

Nguyễn Bình 18/09/2026 06:35

Tại Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 9/2026 của Chính phủ, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư cần xác định vai trò điều tiết, điều phối của Trung ương, hoàn thiện chính sách ưu đãi vượt trội, hỗ trợ đầu tư nhằm thu hút các dự án chất lượng cao, công nghệ cao, có chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Yêu cầu này cho thấy một vấn đề lớn trong hoàn thiện chính sách đầu tư nước ngoài cho giai đoạn tới. Trong bối cảnh chúng ta đã phân cấp, phân quyền rất mạnh cho các địa phương thì càng cần thiết phải có một cơ chế điều tiết, điều phối đủ mạnh ở tầm quốc gia để dòng vốn đầu tư nước ngoài không bị phân tán bởi tư duy phát triển theo địa giới hành chính. Mục tiêu không chỉ là mỗi địa phương thu hút được bao nhiêu vốn, mà là dòng vốn đó sẽ góp phần tạo ra năng lực, giá trị, đóng góp gì cho nền kinh tế đất nước.

Phân cấp là xu thế tất yếu khi các địa phương hiện nay đều đã được mở rộng không gian phát triển rất lớn. Tuy nhiên, phân cấp không có nghĩa là mỗi địa phương tự xác định định hướng thu hút đầu tư riêng và cạnh tranh với nhau bằng lợi thế trước mắt. Với các dự án quy mô lớn, tác động liên vùng, liên ngành hoặc liên quan đến công nghệ, hạ tầng, an ninh kinh tế..., việc lựa chọn dự án đầu tư không thể chỉ nhìn trong phạm vi một địa bàn cụ thể.

Vai trò điều tiết, điều phối của cấp Trung ương, vì thế, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và phải được thực hiện bằng những công cụ cụ thể. Trước hết là phải căn cứ vào quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành để định hướng lựa chọn dự án. Cùng với đó, cần có bộ tiêu chí thống nhất để đánh giá tác động, hiệu quả dự án. Quy mô vốn là rất quan trọng, nhưng quan trọng nhất vẫn là năng lực sản xuất được hình thành, công nghệ và hoạt động nghiên cứu - phát triển được tạo ra, nhân lực được đào tạo, doanh nghiệp trong nước có tham gia được vào chuỗi giá trị hay không, đóng góp ngân sách và giá trị tăng thêm thực sự hình thành ở Việt Nam như thế nào. Đây chính là những tiêu chí cốt lõi để "chấm điểm" một dự án nhằm thực hiện chủ trương chuyển mạnh thu hút đầu tư nước ngoài từ diện rộng sang chiều sâu.

Chính sách ưu đãi vì thế cũng phải thay đổi. Không phải dự án vốn lớn thì mặc nhiên được ưu đãi lớn mà phải gắn với giá trị dự án cam kết tạo ra và có cơ chế kiểm chứng khi đi vào hoạt động. Các cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng trong nước, bảo vệ môi trường, tạo việc làm chất lượng cao, liên kết với doanh nghiệp trong nước... phải được lượng hóa và theo dõi trong suốt vòng đời dự án. Chính sách vừa phải ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư, vừa nâng được năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để họ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Mặt khác, muốn điều phối hiệu quả, cấp Trung ương phải nắm được "đường đi" của dòng vốn, tiến độ của dự án. Cơ sở dữ liệu đầu tư quốc gia kết nối Trung ương - địa phương không chỉ phục vụ quản lý, mà còn là cơ sở để hoạch định chính sách. Khi nắm được tiến độ dự án, việc sử dụng đất, hạ tầng, các nguồn lực được hưởng và mức độ thực hiện cam kết, cơ quan quản lý có thể phát hiện sớm dự án chậm triển khai, điều chỉnh chính sách và xử lý những dự án không đạt yêu cầu.

Cần nói rõ hơn, thực hiện vai trò điều tiết, điều phối không có nghĩa là cấp Trung ương làm thay địa phương. Phân quyền phải đi cùng trách nhiệm. Địa phương được trao quyền quyết định phải chịu trách nhiệm về chất lượng thẩm định, sự phù hợp với quy hoạch, hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực được phân bổ. Trung ương có trách nhiệm thiết lập khung chiến lược, tiêu chí, dữ liệu và cơ chế giám sát để các quyết định ở địa phương vẫn phục vụ mục tiêu phát triển chung.

Sửa đổi Luật Đầu tư vì thế không chỉ là sửa quy định về thủ tục hay chính sách ưu đãi, mà cần xác lập rõ cách thức Nhà nước quản trị dòng vốn: cấp Trung ương điều phối theo chiến lược, địa phương chủ động tổ chức thực hiện, nhà đầu tư được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp nhưng phải thực hiện đầy đủ cam kết. Ưu đãi phải gắn với kết quả; khi cam kết không được thực hiện, phải có cơ chế xử lý kịp thời.

Thước đo của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cũng không nên dừng ở số vốn đăng ký hay số dự án được cấp phép. Điều quan trọng là sau mỗi dự án, Việt Nam có thêm năng lực sản xuất, công nghệ gì, năng lực của doanh nghiệp trong nước có được nâng lên không, có tham gia được vào chuỗi giá trị không và bao nhiêu giá trị thực sự sẽ ở lại nền kinh tế. Sửa đổi Luật Đầu tư phải tạo khung pháp lý để chuyển trọng tâm từ “thu hút vốn” sang “tạo giá trị”, từ quản lý theo địa phương sang điều phối theo lợi ích quốc gia. Khi đó, đầu tư nước ngoài mới thực sự góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Nguyễn Bình