Công nghệ giúp chính sách đi nhanh hơn đến cuộc sống
Chuyển đổi số trong truyền thông hoạt động dân cử, suy cho cùng, không phải là số hóa cách làm cũ. Đó là thiết kế lại cách đại biểu liên hệ với cử tri và Nhân dân, để làm mới cách truyền tải chính sách và cách lắng nghe, tiếp nhận, xử lý tiếng nói của cử tri. Làm tốt công nghệ sẽ giúp Quốc hội, Đoàn ĐBQH, HĐND và đại biểu dân cử gần dân hơn; giúp tiếng nói của cử tri đi nhanh hơn vào nghị trường; giúp chính sách đi nhanh hơn đến cuộc sống; đồng thời giúp người dân có thêm công cụ để theo dõi, phản hồi và giám sát.

Tham dự Hội nghị Cộng tác viên toàn quốc Báo Đại biểu Nhân dân năm 2026 với chủ đề “Phát huy sức mạnh truyền thông chính sách - Đồng hành cùng cơ quan dân cử trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước”, tôi rất vinh dự được tham gia tham luận với chủ đề “Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới trong truyền thông hoạt động của Quốc hội, HĐND và đại biểu dân cử”.
Kênh tương tác, lắng nghe, quản trị thông tin trên không gian số

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi hoạt động của Quốc hội, HĐND và mỗi đại biểu dân cử cũng phải đổi mới, hoà vào dòng chảy của công cuộc chuyển đổi số. Đối với cơ quan dân cử, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào công tác hành chính mà còn mở ra phương thức mới để thực hiện chức năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, cũng là mở ra phương thức mới để truyền thông hoạt động của cơ quan dân cử đến cử tri và Nhân dân.
Chuyển đổi số hôm nay không chỉ là câu chuyện ứng dụng thêm một nền tảng hay một công cụ công nghệ, mà sâu xa hơn là đổi mới cách kết nối với Nhân dân, cách truyền tải chính sách và cách lắng nghe, tiếp nhận, xử lý tiếng nói của cử tri. Đây cũng là yêu cầu đặt ra để truyền thông chính sách thực sự trở thành cầu nối giữa quyết sách của Quốc hội, HĐND với đời sống và sự đồng thuận của Nhân dân.
.jpg)
Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, yêu cầu chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động của cấp ủy, chính quyền, MTTQ nói chung và của cơ quan dân cử ngày càng rõ nét khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai, khối lượng công việc và yêu cầu kết nối thông tin ở cấp xã, phường, đặc khu tăng lên rất lớn. Trước yêu cầu đó, Thường trực HĐND Thành phố đã tổ chức tập huấn cho cán bộ, công chức HĐND Thành phố và đội ngũ đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, truyền thông của 168 xã, phường, đặc khu – đây là lực lượng trực tiếp làm công tác thông tin, truyền thông, đưa hoạt động của cơ quan dân cử đến gần người dân hơn. Nội dung tập huấn không dừng ở kỹ năng viết tin, bài mà tập trung vào sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện: ảnh, video, infographic, video news, megastory và quản trị nội dung trên hệ thống CMS.
Điều chúng tôi hướng tới là chuẩn hóa từ nhận thức đến kỹ năng, từ nội dung đến quy trình sản xuất, để thông tin về hoạt động dân cử không chỉ đúng mà còn dễ hiểu, dễ tiếp cận và có khả năng tương tác. Quan trọng nhất là nội dung truyền thông, chúng tôi xác định rất rõ: viết để dân hiểu, dân tin và dân đồng hành. Vì vậy, các phương tiện truyền thông, các nền tảng số của HĐND Thành phố không thể chỉ là nơi đăng tải nghị quyết, chương trình, báo cáo hay tin hoạt động, mà phải từng bước trở thành những kênh tương tác, lắng nghe và quản trị thông tin trên không gian số.
Hiện, Thường trực HĐND Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai truyền thông trên các nền tảng số: Cổng thông tin điện tử, Zalo OA, Facebook, và chương trình “Dân hỏi – chính quyền trả lời”, các chuyên mục Podcast “Nhịp cầu cử tri”, “Tiêu điểm trong tuần”… thu hút rất nhiều lượt truy cập của người dân.
Đi cùng trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin, kỷ luật phát ngôn
-b8d1b7977b988194ce79065bfb294684.jpg)
Thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề cần thẳng thắn nhìn nhận.
Trước hết là năng lực truyền thông số không đồng đều, nhất là ở cấp xã. Nhiều cán bộ, công chức vẫn làm công tác truyền thông theo phương thức truyền thống, trong khi yêu cầu hiện nay đòi hỏi phải biết viết, chụp ảnh, quay dựng, thiết kế, quản trị nền tảng và xử lý tình huống truyền thông. Tổ chức tập huấn là cần thiết nhưng chưa đủ; phải hình thành đội ngũ có kỹ năng thường xuyên và có quy trình phối hợp thống nhất từ thành phố đến cơ sở.
Thứ hai là hạ tầng, dữ liệu và khả năng kết nối. Nếu mỗi cấp sử dụng một hệ thống, dữ liệu không liên thông, thông tin của cử tri phải nhập lại nhiều lần thì chuyển đổi số chưa thực sự tạo ra thay đổi về phương thức hoạt động.
.jpg)
Chúng tôi cho rằng cần hướng tới nguyên tắc một nền tảng, một dữ liệu, một quy trình, nhất là đối với thông tin dân nguyện, kiến nghị cử tri và kết quả giải quyết. Mỗi vấn đề cử tri phản ánh phải theo dõi được từ lúc tiếp nhận, phân loại, chuyển cơ quan có thẩm quyền, xác định thời hạn xử lý đến khi có kết quả và phản hồi trở lại cho người dân. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, bước đầu đã hình thành cơ sở dữ liệu về ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng thời kết nối liên thông giữa Quốc hội, HĐND thành phố, và 168 xã phường đặc khu.
Các ý kiến, kiến nghị được phân loại theo địa bàn, lĩnh vực, cơ quan có thẩm quyền giải quyết, và tình trạng xử lý. Từ đó, giúp cử tri có thể chủ động theo dõi kết quả giải quyết; giúp đại biểu không chỉ xử lý từng kiến nghị riêng lẻ mà còn nhận diện những vấn đề mang tính phổ biến, kéo dài hoặc có tính hệ thống. Dữ liệu này cũng có thể phục vụ hoạt động giám sát, chất vấn và xây dựng chính sách.
Thứ ba là truyền thông phải đi cùng trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin và kỷ luật phát ngôn. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong bối cảnh AI và mạng xã hội phát triển rất nhanh. Đối với đại biểu dân cử, điều này càng có ý nghĩa. Một thông tin được đăng tải trên tài khoản cá nhân của đại biểu có thể nhanh chóng được tiếp nhận như một thông tin chính thức. Vì vậy, quyền được phát ngôn phải luôn đi cùng trách nhiệm kiểm chứng; ứng dụng AI phải đi cùng trách nhiệm kiểm soát; truyền thông nhanh phải đi cùng yêu cầu chính xác và đúng thẩm quyền. AI có thể hỗ trợ tổng hợp tài liệu, gợi ý nội dung, phân tích dữ liệu, theo dõi xu hướng dư luận; nhưng không thể thay thế trách nhiệm của con người trong kiểm chứng thông tin, quyết định nội dung và chịu trách nhiệm về sản phẩm truyền thông.
Chủ động nắm bắt dư luận xã hội trên môi trường mạng
Từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi cho rằng để thực hiện chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới trong truyền thông hoạt động của Quốc hội, HĐND và đại biểu dân cử, trong thời gian tới cần tập trung vào một số nội dung.
Một là, xây dựng hệ sinh thái truyền thông số thống nhất giữa Quốc hội, Đoàn ĐBQH, HĐND các cấp và đại biểu dân cử; tăng khả năng chia sẻ dữ liệu, thông tin và sản phẩm truyền thông, nhưng vẫn bảo đảm đúng thẩm quyền và quy định bảo mật.
Hai là, đưa dữ liệu dân nguyện và phản hồi của cử tri trở thành một nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan dân cử. Đại biểu không chỉ nhận thông tin qua báo cáo mà cần có công cụ để nắm bắt vấn đề từ cơ sở, nhận diện vấn đề nổi lên và theo dõi đến cùng việc giải quyết.
Ba là, tiếp tục chuẩn hóa sản phẩm truyền thông số. Những vấn đề lớn của Quốc hội, HĐND cần được diễn giải bằng nhiều hình thức phù hợp: infographic, video ngắn, hỏi - đáp, dữ liệu trực quan, mã QR, nội dung đa phương tiện. Mục tiêu không phải làm nhiều sản phẩm hơn, mà là đưa chính sách đến đúng người, đúng lúc và theo cách người dân dễ hiểu nhất.
Bốn là, tiếp tục xây dựng, đào tạo đội ngũ truyền thông từ thành phố đến xã, phường, đặc khu, trong đó đại biểu HĐND, nhất là đại biểu chuyên trách và đội ngũ chuyên viên tham mưu, giúp việc; trang bị đồng thời kỹ năng báo chí, kỹ năng số, phát ngôn và ứng xử trên không gian mạng. Khuyến khích, tạo điều kiện để đại biểu và cán bộ HĐND chủ động viết, cung cấp thông tin, cộng tác với Trang, Cổng thông tin điện tử của HĐND thành phố và cơ quan báo chí chuyên ngành về hoạt động dân cử, nhất là Báo Đại biểu Nhân dân.
Đây cũng là cách phát huy lợi thế đặc thù của Báo Đại biểu Nhân dân với mạng lưới cộng tác viên rộng khắp là chính các đại biểu dân cử – những người trực tiếp tiếp xúc cử tri, nắm bắt thực tiễn và tham gia quyết định chính sách. Qua đó, Báo không chỉ là “cẩm nang” phục vụ hoạt động của đại biểu, cung cấp thông tin, kinh nghiệm và những vấn đề thực tiễn cần quan tâm, mà còn là nơi tiếp nhận, lan tỏa và phản ánh “mạch nguồn” từ cơ sở, đưa tiếng nói của cử tri, những vấn đề trong đời sống và thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật đến với Quốc hội, HĐND và Nhân dân.
Từ đó, hình thành một dòng chảy thông tin hai chiều: đại biểu lắng nghe thực tiễn từ Nhân dân để thực hiện tốt hơn chức năng đại diện; đồng thời, thông qua hoạt động cộng tác, đại biểu góp phần đưa thực tiễn vào truyền thông chính sách, để chính sách được hiểu đúng, gần dân và sát thực tiễn hơn. Đây phải được xem là một bộ phận của năng lực thực hiện chức năng đại diện, không phải kỹ năng phụ trợ.
Năm là, chủ động nắm bắt dư luận xã hội trên môi trường mạng. Không nên chỉ chờ báo cáo rồi mới truyền thông, mà phải phát hiện sớm những vấn đề người dân đang quan tâm để chủ động cung cấp thông tin chính xác, giải thích chính sách và đối thoại. Cổng thông tin điện tử vì vậy vừa là kênh truyền thông, vừa là một công cụ quản trị thông tin và lắng nghe xã hội.
Cuối cùng, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả truyền thông. Không nên chỉ đo bằng số lượng tin, bài hay lượt xem. Điều quan trọng hơn là người dân có hiểu chính sách không, có biết quyền và trách nhiệm của mình không, có tham gia góp ý không, kiến nghị có được giải quyết không, niềm tin và sự đồng thuận xã hội có được củng cố hay không.