Phân loại rủi ro, phân tầng kiểm soát
Chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trong quản lý phòng cháy, chữa cháy hiện đang là nội dung được cộng đồng doanh nghiệp hết sức quan tâm.
Thực tiễn triển khai các quy định mới của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thời gian qua cho thấy, cắt giảm thủ tục hành chính đã tạo thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, nhưng cũng phát sinh một số vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ. Tại Diễn đàn "Đối thoại với doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ” do Hiệp hội Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ Việt Nam tổ chức vừa qua, các doanh nghiệp phản ánh 3 nhóm vướng mắc chủ yếu gồm: sự giao thoa giữa pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ với pháp luật xây dựng; việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mới hoặc những quy định cần tiếp tục cập nhật; thủ tục cấp phép lưu thông, quản lý chất lượng đối với phương tiện, thiết bị, vật liệu phòng cháy, chữa cháy, cơ chế hậu kiểm sau khi cắt giảm thủ tục nghiệm thu và việc công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế.

Những vướng mắc trên cho thấy, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm không đơn thuần là bỏ một vài khâu kiểm tra, mà là sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, đòi hỏi phải thiết kế được một cơ chế hậu kiểm đủ rõ, đủ mạnh và phù hợp với mức độ rủi ro.
Cho ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh đồng tình với hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, nhưng lưu ý không nên áp dụng một cách đồng loạt. Với những công trình quan trọng, có tác động lớn, nhất là nhà cao tầng, khu dân cư tập trung đông người, cần cân nhắc duy trì cả kiểm soát thiết kế và kiểm tra nghiệm thu; trong khi những nhóm công trình khác có thể chuyển sang hậu kiểm để tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu cốt lõi của hậu kiểm không phải là kiểm tra ít đi, mà là kiểm tra đúng nơi, đúng mức độ và đúng thời điểm. Muốn vậy, trước hết phải phân loại được rủi ro. Những cơ sở có nguy cơ thấp có thể giảm tần suất kiểm tra, tăng cơ chế tự chịu trách nhiệm; ngược lại, với công trình có nguy cơ cháy, nổ cao hoặc có khả năng gây hậu quả lớn nếu xảy ra sự cố, mức độ kiểm soát phải chặt chẽ hơn.
Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh cũng đặt vấn đề theo hướng này khi cho ý kiến về quy định về đưa cơ sở, phương tiện, hộ gia đình vi phạm về phòng cháy, chữa cháy đã bị đình chỉ hoạt động trở lại. Theo ông, với những vi phạm ít nghiêm trọng, sau khi khắc phục có thể áp dụng cơ chế tự chịu trách nhiệm và thông báo. Nhưng với trường hợp có nguy cơ cao về cháy, nổ hoặc bị đình chỉ do không bảo đảm điều kiện an toàn, cần có cơ chế kiểm tra, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trước khi hoạt động trở lại. Yêu cầu đặt ra là phải vừa tạo điều kiện cho cơ sở đã khắc phục vi phạm được hoạt động, vừa bảo đảm việc khắc phục là thực chất và mức độ kiểm soát tương xứng với rủi ro.
Như vậy, vấn đề cốt lõi của chuyển đổi phương thức quản lý nằm ở việc thay thế cách kiểm soát dàn đều bằng cơ chế quản lý theo rủi ro. Rủi ro càng cao, yêu cầu kiểm soát phải càng chặt; rủi ro càng thấp, thủ tục càng cần được đơn giản hóa và trách nhiệm tự kiểm soát của doanh nghiệp, chủ cơ sở càng phải được đề cao.
Cộng đồng doanh nghiệp cũng mong muốn một phương thức quản lý minh bạch, có thể dự đoán và xác định rõ trách nhiệm. Khi chuyển sang hậu kiểm, doanh nghiệp phải biết mình được chủ động đến đâu, phải chịu trách nhiệm như thế nào, trong trường hợp nào cơ quan quản lý sẽ kiểm tra và tiêu chí kiểm tra là gì. Cùng với giảm thủ tục phải xác lập rõ trách nhiệm pháp lý, yêu cầu duy trì điều kiện an toàn trong suốt quá trình sử dụng và cơ chế xử lý nghiêm khi vi phạm.
Một điểm quan trọng nữa là hậu kiểm phải được thực hiện trên cơ sở dữ liệu và mức độ rủi ro. Đặc biệt, quản lý hậu kiểm không nên chỉ được hiểu là kiểm tra sau khi công trình hoàn thành. Mức độ an toàn có thể thay đổi trong quá trình khai thác, khi công năng thay đổi, mở rộng quy mô, cải tạo hoặc đưa vào sử dụng những thiết bị, vật liệu mới. Do đó, cơ chế hậu kiểm cần bảo đảm việc kiểm soát an toàn trong suốt vòng đời công trình, đồng thời có cơ chế phát hiện và xử lý kịp thời những thay đổi làm gia tăng rủi ro.
Nói cách khác, một cơ chế hậu kiểm về phòng cháy, chữa cháy hiệu quả cần được thiết kế theo hướng phân loại rủi ro, phân tầng kiểm soát, phân định rõ trách nhiệm và sử dụng dữ liệu để tổ chức hậu kiểm có trọng tâm; giảm thủ tục để giảm chi phí tuân thủ, nhưng phải tăng trách nhiệm; giảm kiểm tra dàn trải, nhưng phải tăng khả năng nhận diện và kiểm soát rủi ro.