Thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc: Sớm xây dựng Chương trình kết nối nhà cung ứng về bán dẫn, AI
Nhằm thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ và mở cơ hội để Việt Nam tham gia các “siêu dự án” bán dẫn, AI của Hàn Quốc, cần sớm xây dựng Chương trình kết nối nhà cung ứng Việt - Hàn, qua đó xác định nhu cầu của từng dự án và doanh nghiệp có khả năng đáp ứng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) ĐỖ THỊ THÚY HƯƠNG đề xuất.
Hợp tác bán dẫn, AI sẽ thực chất hơn
- Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Hàn Quốc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã hội kiến Thủ tướng Hàn Quốc Han Seong Sook; hai nhà lãnh đạo nhất trí đẩy mạnh hợp tác khoa học, công nghệ giữa hai nước, tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các “siêu dự án” về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) của Hàn Quốc. Theo bà, chủ trương này mở ra những cơ hội nào cho doanh nghiệp Việt Nam?
- VEIA đánh giá hợp tác công nghệ bán dẫn và AI giữa Việt Nam và Hàn Quốc sẽ có bước phát triển mạnh hơn, thực chất hơn sau các trao đổi cấp cao giữa lãnh đạo hai nước. Việc hai bên thống nhất đẩy mạnh hợp tác khoa học, công nghệ là tín hiệu rất tích cực, đặc biệt khi Việt Nam đề nghị Hàn Quốc chia sẻ kinh nghiệm và tạo cơ hội để doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu của Việt Nam tham gia các dự án bán dẫn và AI quy mô lớn mà Hàn Quốc đang triển khai.

Trước hết, hợp tác bán dẫn được kỳ vọng sẽ đi sâu hơn vào chuỗi giá trị. Trong nhiều năm, các doanh nghiệp Hàn Quốc, đặc biệt là Samsung, đã đóng vai trò lớn trong hệ sinh thái điện tử tại Việt Nam. Giai đoạn tới, hợp tác có thể mở rộng từ sản xuất, lắp ráp sang những lĩnh vực có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế vi mạch, đóng gói - kiểm thử, vật liệu bán dẫn, thiết bị phụ trợ, tự động hóa, linh kiện chính xác và nghiên cứu - phát triển (R&D). Đây là những không gian doanh nghiệp Việt Nam có thể từng bước tham gia sâu hơn, dựa trên lợi thế về nguồn nhân lực kỹ thuật, phần mềm, thiết kế, dịch vụ kỹ thuật và mạng lưới doanh nghiệp điện tử đang hình thành.
Thước đo thành công của hợp tác công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc trong giai đoạn tới không chỉ là tổng vốn đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam tham gia được bao nhiêu phần trong chuỗi giá trị của các dự án. Đây mới là yếu tố quyết định chiều sâu và tính bền vững của hợp tác”.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VEIA Đỗ Thị Thúy Hương
Bên cạnh bán dẫn, AI sẽ trở thành một trụ cột hợp tác mới. Nhu cầu về chip AI, trung tâm dữ liệu, điện toán và các giải pháp AI đang thúc đẩy mạnh ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các dự án về AI chip, AI biên (công nghệ cho phép xử lý và phân tích dữ liệu bằng AI ngay trên hoặc gần thiết bị tạo ra dữ liệu, như camera, cảm biến hay thiết bị IoT, thay vì phải gửi dữ liệu lên máy chủ hoặc đám mây - PV), sản xuất thông minh, robot và ứng dụng AI trong công nghiệp điện tử.
Một lĩnh vực quan trọng khác là đào tạo nhân lực. Việt Nam đang cần đội ngũ kỹ sư thiết kế chip, vật liệu bán dẫn, thiết kế hệ thống, đóng gói - kiểm thử, AI và tự động hóa. Trong khi đó, Hàn Quốc có hệ sinh thái đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ phát triển. Hai bên có thể đẩy mạnh các mô hình đào tạo, nghiên cứu, thực tập và phát triển dự án chung.
Hợp tác R&D cũng có nhiều dư địa. Những nền tảng hợp tác khoa học, công nghệ giữa hai nước có thể được phát triển theo hướng đưa nghiên cứu đến gần doanh nghiệp hơn, hình thành các phòng thí nghiệm chung, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đồng phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ mới.
“Tham gia” không nên dừng ở vai trò nhà cung ứng
- Cơ hội “tham gia” các siêu dự án không đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam tự động nâng được vị trí trong chuỗi giá trị. Theo bà, cần hiểu và định vị sự tham gia này như thế nào?
- Nếu Hàn Quốc mở rộng các “siêu dự án” về bán dẫn và AI, nhu cầu đối với hệ sinh thái nhà cung cấp sẽ tăng rất nhanh. Khi đó, cơ hội không chỉ nằm ở các công đoạn sản xuất mà còn mở ra với những doanh nghiệp cung cấp mạch in, linh kiện điện tử, cơ khí chính xác, khuôn mẫu, vật liệu, thiết bị tự động hóa, hệ thống điện - điện tử, phần mềm nhúng, kiểm thử và dịch vụ kỹ thuật.
Theo tôi, có thể hình dung quan hệ công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc trong 3 - 5 năm tới theo ba tầng. Tầng thứ nhất là Hàn Quốc mở rộng đầu tư và nâng cấp các cơ sở sản xuất công nghệ tại Việt Nam. Tầng thứ hai là doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn Hàn Quốc. Tầng thứ ba, cũng là tầng được kỳ vọng nhất, là hai bên cùng nghiên cứu, cùng phát triển và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ mới.
Như vậy, “tham gia” không nên được hiểu là trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp Hàn Quốc, mà cần hướng tới quan hệ hợp tác cùng phát triển, qua đó nâng dần vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
- “Tấm vé” để bước vào chuỗi cung ứng công nghệ cao ngày càng đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe, vậy doanh nghiệp điện tử Việt Nam cần chuẩn bị những gì ngay từ bây giờ để không bị đứng ngoài cuộc chơi?
- Doanh nghiệp cần chuẩn bị từ sớm, bởi khi các dự án được triển khai trên quy mô lớn, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng nhanh các tiêu chuẩn và yêu cầu của những tập đoàn dẫn đầu.
Điều quan trọng trước mắt là doanh nghiệp phải nâng cao năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm, quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, cần đầu tư cho R&D, nhân lực kỹ thuật, chuyển đổi số, an ninh mạng và các yêu cầu về ESG. Doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm hiểu nhu cầu của các tập đoàn Hàn Quốc để xác định mình có thể tham gia ở khâu nào, từ đó đầu tư có trọng tâm thay vì chờ cơ hội đến rồi mới chuẩn bị.
Cần một đầu mối quốc gia điều phối hợp tác
- Về phía Nhà nước cần có những giải pháp gì để những cam kết hợp tác công nghệ ở cấp cao thực sự mở ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, thưa bà/
- Chúng tôi đề xuất trước tiên xây dựng cơ chế kết nối trực tiếp doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn Hàn Quốc trong các dự án bán dẫn và AI. Hai bên có thể phối hợp xây dựng Chương trình kết nối nhà cung ứng Việt Nam - Hàn Quốc trong lĩnh vực bán dẫn và điện tử AI, qua đó xác định cụ thể nhu cầu của từng dự án và doanh nghiệp Việt Nam có khả năng đáp ứng.
Thứ hai, cần chuyển từ mô hình “doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư - doanh nghiệp Việt Nam cung ứng” sang mô hình cùng phát triển, hướng tới tầng hợp tác cao hơn là cùng nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa sản phẩm.
Thứ ba, Hàn Quốc có thể hỗ trợ xây dựng các chương trình nâng cấp nhà cung ứng dành riêng cho doanh nghiệp Việt Nam, giúp doanh nghiệp không chỉ gia nhập mà còn đủ năng lực duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng.
Thứ tư, cần hình thành các trung tâm R&D và đào tạo chung Việt Nam - Hàn Quốc với sự tham gia của cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hai nước.
Thứ năm, bên cạnh bán dẫn, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia hệ sinh thái AI và hạ tầng công nghệ, như trung tâm dữ liệu, máy chủ, thiết bị nguồn, hệ thống làm mát, hạ tầng viễn thông và thiết bị điện - điện tử. Đây là những lĩnh vực mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sớm hơn so với các công đoạn đòi hỏi công nghệ lõi cao.
Cuối cùng, cần có một đầu mối quốc gia để theo dõi và thúc đẩy hợp tác. Cơ chế phối hợp thường xuyên giữa các cơ quan Chính phủ hai nước với cộng đồng doanh nghiệp cần được thiết lập để theo dõi từng dự án, xác định nhu cầu và kết nối doanh nghiệp Việt Nam cụ thể, tránh việc hợp tác chỉ dừng ở các bản ghi nhớ.
- Xin cảm ơn bà!