Giáo dục

Những “pháo đài” tri thức nơi biên cương

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn 05/09/2026 20:39

Năm học 2026 - 2027 mở đầu bằng dấu mốc đặc biệt khi lễ khai giảng được tổ chức gắn với lễ khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền. Đây sẽ là những “pháo đài” của tri thức, văn hóa và lòng yêu nước nơi biên cương.

Xây dựng thế trận lòng dân bền vững

Sáng 5/9, nhiều ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp ở các xã biên giới được khánh thành, đưa vào sử dụng. Những ngôi trường ấy hiện thực hóa chủ trương đầu tư hệ thống trường nội trú liên cấp tại 248 xã biên giới đất liền - một chủ trương vừa có ý nghĩa giáo dục, vừa có ý nghĩa xã hội, văn hóa, quốc phòng và an ninh lâu dài.

Điều đáng chú ý là cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt vấn đề về những ngôi trường này: đó phải là những “pháo đài” của tri thức, văn hóa và lòng yêu nước ở biên giới. Thông điệp không dừng ở yêu cầu bảo đảm phòng học khang trang hơn cho trẻ em vùng khó khăn, mà thể hiện tư duy phát triển dựa trên con người. Biên giới được giữ vững trước hết bởi những cộng đồng dân cư có cuộc sống ổn định, có niềm tin, có tri thức, có cơ hội phát triển và có sự gắn bó bền chặt với quê hương. Một cột mốc chủ quyền cần được bảo vệ bằng sức mạnh của pháp luật và lực lượng quốc phòng, an ninh; nhưng phía sau cột mốc ấy còn cần những “cột mốc sống” là con người biết mình thuộc về đâu, hiểu giá trị của mảnh đất mình đang sống và có đủ năng lực để làm cho quê hương ngày càng tốt đẹp hơn.

t02.jpg
Thủ tướng Lê Minh Hưng đến dự Lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 tại Trường Phổ thông nội trú Mường Khương, xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

Bởi vậy, xây trường ở biên giới chính là đầu tư cho một thế trận lòng dân bền vững. Khi một đứa trẻ có thể học tập trong điều kiện tốt, được ăn ở an toàn, được tiếp cận sách vở, công nghệ và những phương pháp giáo dục hiện đại, em không chỉ có thêm cơ hội thay đổi cuộc đời mình mà còn mở ra khả năng thay đổi tương lai của gia đình và cộng đồng. Khi cha mẹ yên tâm gửi con đến trường, khi người thầy có điều kiện gắn bó lâu dài với địa bàn, khi nhà trường trở thành nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin, thì khoảng cách giữa trung tâm và vùng biên không chỉ được rút ngắn bằng hạ tầng vật chất mà còn cả cơ hội phát triển.

t01.jpg
Thủ tướng Lê Minh Hưng đến dự Lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 tại Trường Phổ thông nội trú Mường Khương, xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

Trong thư gửi ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới 2026 - 2027, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội tiếp tục đầu tư thiết thực cho giáo dục, nhất là ở những địa bàn khó khăn, để “nơi sinh ra hay hoàn cảnh gia đình không cản trở con đường học tập và tương lai của một con người”. Đây là một quan điểm rất nhân văn về công bằng giáo dục. Công bằng không có nghĩa là mọi nơi đều được đầu tư giống nhau, mà là nơi khó hơn phải được quan tâm nhiều hơn, người chịu nhiều thiệt thòi hơn phải có thêm điều kiện để vươn lên. Chỉ khi trẻ em ở vùng biên giới có cơ hội học tập và phát triển không thua kém so với trẻ em ở đô thị, chúng ta mới có thể nói đến một nền giáo dục thực sự bao trùm.

Không gian nuôi dưỡng bản sắc, ký ức cộng đồng

Nếu tri thức giúp con người mở rộng chân trời, thì văn hóa giúp con người biết mình là ai. Đối với vùng biên giới, nơi nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống, nhà trường càng không thể chỉ là nơi truyền đạt kiến thức theo nghĩa hẹp. Trường học phải là không gian nuôi dưỡng bản sắc, gìn giữ tiếng nói, phong tục, ký ức cộng đồng và những giá trị tốt đẹp đã hình thành qua nhiều thế hệ. Đây cũng là lý do thông điệp “pháo đài” được đặt trong một chỉnh thể gồm ba yếu tố không thể tách rời: tri thức, văn hóa và lòng yêu nước.

Một ngôi trường hiện đại không nên xa lạ với đời sống địa phương, trái lại, giúp trẻ em bước vào thế giới rộng lớn mà không phải rời bỏ căn tính của mình. Các em có thể học khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, ngoại ngữ, nhưng đồng thời vẫn phải hiểu câu chuyện của bản làng, biết những làn điệu dân ca, nghề thủ công, lễ hội, trang phục và những tri thức dân gian của dân tộc mình. Khi văn hóa bản địa được tôn trọng trong nhà trường, học sinh sẽ cảm thấy kiến thức mới không đối lập với truyền thống, mà có thể trở thành công cụ để gìn giữ, làm giàu và đưa những giá trị của quê hương vào đời sống đương đại.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn, Bí thư Thành ủy Quảng Ninh Quản Minh Cường và các đại biểu, các em học sinh chụp ảnh lưu niệm
Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn, Bí thư Thành ủy Quảng Ninh Quản Minh Cường với học sinh, giáo viên Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Bình Liêu, TP. Quảng Ninh. Ảnh: Phạm Thắng

Trong thư gửi ngành giáo dục, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm viết: công nghệ phải phục vụ con người và làm cho giáo dục tốt đẹp hơn; càng ứng dụng công nghệ hiện đại, nhà trường càng phải bồi đắp tư duy độc lập, liêm chính học thuật, trách nhiệm, ý thức công dân và những giá trị nhân văn mà máy móc không thể thay thế. Đặt yêu cầu ấy vào các trường học biên giới, chúng ta càng thấy rõ nội hàm của một “pháo đài” văn hóa. Đó không phải là đóng cửa để giữ gìn truyền thống, càng không phải là tạo ra khoảng cách với thế giới hiện đại. Một pháo đài văn hóa đúng nghĩa phải đủ vững để mở cửa. Người học càng có nền tảng văn hóa vững chắc thì càng có khả năng tiếp nhận cái mới một cách tự tin, chọn lọc và sáng tạo.

Lòng yêu nước cũng cần được nuôi dưỡng theo tinh thần ấy. Yêu nước không chỉ nằm trong những bài học lớn hay những khẩu hiệu trang trọng, mà phải được hình thành từ trải nghiệm sống hàng ngày: biết trân trọng tiếng nói của dân tộc mình, giữ gìn môi trường của bản làng, tôn trọng pháp luật, biết lịch sử quê hương, hiểu ý nghĩa của đường biên, cột mốc và có ý thức đóng góp cho cộng đồng. Với một đứa trẻ lớn lên ở vùng biên giới, lòng yêu nước có thể bắt đầu rất giản dị từ việc yêu ngôi nhà, dòng suối, cánh rừng, phiên chợ, tiếng nói của ông bà và mái trường mà em đang học. Khi tình yêu cụ thể ấy được nâng đỡ bằng tri thức lịch sử và ý thức công dân, nó sẽ trở thành một sức mạnh bền vững.

Bởi vậy, cùng với xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, cần coi chương trình giáo dục, hoạt động trải nghiệm, văn hóa nhà trường và đội ngũ giáo viên là phần “hồn” của các trường nội trú liên cấp vùng biên. Nhà trường có thể trở thành một trung tâm văn hóa của cộng đồng, nơi người già kể chuyện truyền thống, nghệ nhân truyền dạy di sản, bộ đội biên phòng nói chuyện về chủ quyền, cán bộ khoa học đưa tri thức mới đến với học sinh, và chính học sinh trở thành những người kể câu chuyện quê hương bằng ngôn ngữ của thời đại số. Khi ấy, văn hóa không còn là một môn học đứng bên cạnh các môn khác, mà thấm vào cách nhà trường tổ chức đời sống, cách thầy trò ứng xử và cách cộng đồng cùng nuôi dưỡng thế hệ tương lai.

Bắt đầu từ người thầy và chất lượng thực chất

Một ngôi trường có thể được xây dựng trong 1 - 2 năm, nhưng để hình thành một thiết chế giáo dục thực sự có sức sống cần nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ. Sau lễ khánh thành, câu hỏi quan trọng nhất là ngôi trường ấy sẽ vận hành như thế nào, có giữ được học sinh ở lại trường không, có thu hút được giáo viên giỏi và tâm huyết không, có tạo ra sự tiến bộ thực chất của từng em hay không… Nếu không giải được những câu hỏi đó, những “pháo đài” bằng bê tông sẽ rất khó trở thành “pháo đài” của tri thức, văn hóa và lòng yêu nước theo đúng nghĩa.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, “chăm lo giáo dục trước hết là chăm lo cho người thầy”. Đối với vùng biên giới, giáo viên không chỉ dạy học, mà nhiều khi còn là người vận động học sinh đến lớp, hỗ trợ các em thích nghi với môi trường nội trú, kết nối với gia đình, bù đắp những thiếu hụt về ngôn ngữ, kỹ năng và điều kiện sống, thậm chí trở thành điểm tựa tinh thần cho học trò. Một chính sách trường học vùng biên thành công vì thế phải đồng thời giữ chân và phát triển người thầy.

Điều này đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện: thu nhập và phụ cấp tương xứng, cơ hội đào tạo và phát triển nghề nghiệp, hạ tầng số phục vụ chuyên môn, cùng một môi trường quản trị tôn trọng năng lực và giảm bớt gánh nặng hành chính không cần thiết. Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên. Nguyên tắc ấy cần được triển khai quyết liệt hơn ở địa bàn biên giới, nơi chỉ một vài vị trí giáo viên thiếu hụt cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội học tập của cả một nhóm trẻ em.

Cùng với người thầy là yêu cầu về chất lượng thực chất. Thành tích phải gắn với sự tiến bộ của từng học sinh, sự trung thực trong dạy và học, và niềm vui đến trường. Không nên áp đặt máy móc cùng một chuẩn thành tích giữa những địa bàn có điều kiện rất khác nhau. Một học sinh dân tộc thiểu số vượt qua rào cản ngôn ngữ, duy trì chuyên cần, biết tự học, tự tin giao tiếp, hiểu biết hơn về sức khỏe, pháp luật, công nghệ và văn hóa của chính mình đã là một bước tiến đáng trân trọng. Một ngôi trường giảm được tỷ lệ bỏ học, giúp nhiều học sinh tiếp tục học lên, tạo ra những giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, cán bộ, doanh nhân trở về phục vụ quê hương chính là một thành công có ý nghĩa lâu dài.

Từ những mái trường biên giới, chúng ta cũng có thể nhìn thấy một bài học lớn hơn cho toàn bộ nền giáo dục. Giáo dục chỉ thực sự đổi mới khi những chủ trương lớn được đo bằng trải nghiệm cụ thể của người học và người dạy. Một nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi học sinh thấy giờ học tốt hơn, giáo viên có thêm thời gian cho chuyên môn, phụ huynh bớt áp lực, nhà trường trung thực hơn và cơ hội học tập được mở rộng cho những người yếu thế. Bởi vậy, lời căn dặn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, rằng năm học 2026 - 2027 phải tạo “chuyển biến thực chất” cần được hiểu như một cam kết hành động của toàn hệ thống, từ trung ương đến từng lớp học.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn