Địa phương

Nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ Môi trường Đồng Nai:Bài toán quỹ đất và trồng rừng thay thế: Thách thức trên hành trình xanh hóa Đồng Nai

Anh Lương 05/09/2026 07:13

Đồng Nai là địa phương có nguồn tài nguyên rừng lớn, nhưng quỹ đất có thể bố trí cho trồng rừng thay thế không phải là vô hạn. Với những dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, pháp luật đặt ra yêu cầu trồng rừng thay thế hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính để bảo đảm duy trì và phát triển vốn rừng.

Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy bài toán không chỉ nằm ở nguồn kinh phí. Quỹ đất phù hợp để trồng rừng thay thế còn hạn chế, trong khi thủ tục, tổ chức thực hiện và yêu cầu bảo đảm chất lượng rừng sau trồng cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.

Quỹ đất - điểm nghẽn trong bài toán trồng rừng thay thế

Sau sáp nhập, Đồng Nai quản lý hơn 370.020ha rừng và đất lâm nghiệp, trở thành địa phương có diện tích rừng lớn nhất Đông Nam Bộ. Trong đó, rừng đặc dụng chiếm 39,41%, rừng phòng hộ 23,14% và rừng sản xuất 37,45%. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng đối với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế lâm nghiệp và sinh kế của người dân vùng ven rừng.

Bài 2 Sau sáp nhập, TP. Đồng Nai quản lý hơn 370.020 ha rừng và đất lâm nghiệp, trở thành địa phương có diện tích rừng lớn nhất Đông Nam Bộ-Ảnh (Anh Tuấn)
Sau sáp nhập, thành phố Đồng Nai quản lý hơn 370.020ha rừng và đất lâm nghiệp, trở thành địa phương có diện tích rừng lớn nhất Đông Nam Bộ. Ảnh: Anh Tuấn

Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, đặt ra yêu cầu cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ vốn rừng. Đối với các dự án được phép chuyển mục đích sử dụng rừng, pháp luật yêu cầu chủ đầu tư phải thực hiện trồng rừng thay thế hoặc nộp tiền để thực hiện nghĩa vụ này.

Tháng 10/2025, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Kế hoạch số 114/KH-UBND về trồng rừng thay thế trên địa bàn năm 2026, nhằm bảo đảm diện tích rừng được trồng thay thế tương ứng với diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng, qua đó duy trì và phát triển vốn rừng, phát huy chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái.

Tuy nhiên, có nguồn kinh phí chưa đồng nghĩa với việc có ngay quỹ đất để trồng rừng. Trong hồ sơ xây dựng đơn giá trồng rừng thay thế, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đồng Nai từng đánh giá: “Quỹ đất trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh không có nhiều”. Trong khi đó, nhiều dự án hạ tầng lớn như cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, cao tốc Dầu Giây - Tân Phú, cao tốc Phan Thiết - Dầu Giây, cầu Phước An... có sử dụng đất rừng và phát sinh nghĩa vụ trồng rừng thay thế.

Thực tế từ dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc cho thấy rõ khoảng cách này. Sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với diện tích rừng phải chuyển đổi, các cơ quan liên quan vẫn phải tiếp tục rà soát quỹ đất để bố trí phần diện tích trồng rừng thay thế còn thiếu. Như vậy, bài toán không dừng ở việc “thu đủ tiền”, mà phải giải quyết được câu hỏi “trồng ở đâu và làm thế nào để hình thành rừng trên thực tế”.

Theo quy định hiện hành, trong trường hợp địa phương không còn quỹ đất phù hợp, nguồn kinh phí trồng rừng thay thế có thể được bố trí cho địa phương khác có nhu cầu, ưu tiên nơi còn diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ hoặc rừng sản xuất. Cơ chế này mở thêm phương án xử lý khi quỹ đất tại nơi phát sinh nghĩa vụ bị hạn chế, nhưng đồng thời đòi hỏi việc rà soát quỹ đất, quy hoạch và điều phối nguồn lực phải được thực hiện chủ động.

Trong bối cảnh Đồng Nai tiếp tục triển khai nhiều dự án hạ tầng, đô thị và công nghiệp, việc quản lý quỹ đất lâm nghiệp vì vậy cần được đặt trong tổng thể quy hoạch sử dụng đất. Địa phương cũng đang đề xuất điều chỉnh một số chỉ tiêu sử dụng đất, trong đó giảm hơn 5.000ha đất lâm nghiệp, đồng thời tăng diện tích đất rừng sản xuất từ khoảng 98.100ha lên 107.600ha. Những thay đổi này cho thấy yêu cầu cân đối giữa không gian phát triển và bảo vệ vốn rừng ngày càng rõ nét.

Từ thực tế trên, quỹ đất cho trồng rừng thay thế cần được rà soát và chuẩn bị từ sớm, gắn với quy hoạch lâm nghiệp và kế hoạch sử dụng đất. Khi địa điểm trồng được xác định, thủ tục được chuẩn bị và nguồn kinh phí được bố trí đồng bộ, tiền trồng rừng thay thế mới có thể nhanh chóng chuyển hóa thành diện tích rừng thực tế.

Thước đo khả năng chuyển hóa nguồn lực tài chính thành vốn rừng thực tế

Kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2026 của Đồng Nai đặt mục tiêu trồng 620,06ha, với tổng kinh phí gần 76 tỷ đồng. Trong đó, rừng phòng hộ chiếm 558,49ha, rừng đặc dụng 23,37ha và rừng sản xuất 38,20ha. Đáng chú ý, 513,03ha, tương đương gần 83% tổng diện tích, được bố trí tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng. Phần diện tích còn lại được phân bổ cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, Đắk Mai, Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai và Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành.

Điểm đáng chú ý của kế hoạch không chỉ nằm ở quy mô diện tích và kinh phí, mà ở yêu cầu hình thành rừng sau đầu tư. Việc trồng rừng được triển khai gắn với chăm sóc đến năm 2030; các dự án phải lựa chọn loài cây phù hợp điều kiện sinh thái, thực hiện đúng thiết kế và bảo đảm tỷ lệ cây sống từ 85% trở lên. Như vậy, hiệu quả đầu tư không thể chỉ được tính bằng số tiền giải ngân hay số cây được trồng, mà phải được đánh giá bằng diện tích rừng thực tế đạt yêu cầu.

Để đạt mục tiêu này, việc quản lý nguồn tiền phải đi cùng quản lý đất, tiến độ và chất lượng dự án. Quỹ Nông nghiệp và Môi trường cần phối hợp với cơ quan chuyên môn trong phân bổ kinh phí, xác định diện tích, theo dõi tiến độ và kiểm tra kết quả. Cùng với đó, quỹ đất có khả năng trồng rừng cần được rà soát, cập nhật và gắn với quy hoạch lâm nghiệp, kế hoạch sử dụng đất để chủ động bố trí diện tích khi phát sinh nghĩa vụ trồng rừng thay thế.

Thực tế đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy “có tiền để trồng” sang “có đất, có dự án và có rừng sau đầu tư”. Bởi nếu kinh phí đã được bố trí nhưng chưa có đất phù hợp, thủ tục kéo dài hoặc rừng sau trồng không đạt yêu cầu, mục tiêu của chính sách vẫn chưa được hoàn thành.

Trong bối cảnh Đồng Nai tiếp tục phát triển hạ tầng, công nghiệp và đô thị, áp lực lên quỹ đất là khó tránh khỏi. Vì vậy, mỗi diện tích rừng chuyển đổi cần được xác định đầy đủ nghĩa vụ thay thế; mỗi khoản tiền đã nộp phải được phân bổ rõ mục đích và mỗi dự án trồng rừng cần được theo dõi từ khi triển khai đến khi hình thành rừng đạt yêu cầu.

620,06ha và gần 76 tỷ đồng vì thế không chỉ là những con số về diện tích và kinh phí, mà còn là thước đo khả năng chuyển hóa nguồn lực tài chính thành vốn rừng thực tế. Khi quỹ đất được chuẩn bị chủ động, nguồn tiền được quản lý chặt chẽ, thủ tục được tháo gỡ và chất lượng rừng được giám sát đến cùng, trồng rừng thay thế mới có thể phát huy vai trò trong cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn vốn rừng.

Anh Lương