Chính trị

Phát triển Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, thống nhất, phú cường và nhân văn

Ts. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản 29/08/2026 07:03

Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Đó là bước ngoặt phát triển kỳ vĩ của lịch sử Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ của Đảng. Và, sau hơn 40 năm đổi mới, quốc gia dân tộc đang đứng trước một thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt: kỷ nguyên mới kiến tạo một nước Việt Nam phát triển độc lập, tự do, hạnh phúc, thống nhất, phú cường và nhân văn. Đó là khát vọng ngàn đời của tiên tổ, là Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mệnh lệnh của thời đại và là thước đo bản lĩnh trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền.

Độc lập và tự chủ chiến lược: Nền tảng bất biến của một quốc gia tự do

Độc lập dân tộc là mạch nguồn sinh mệnh của nước Việt Nam. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đúc kết một chân lý thời đại: Không có độc lập thì không có tự do, không có chủ quyền thì dân tộc chỉ là nô lệ và chư hầu dưới hình thức này hay khác.

Độc lập thời đại số không chỉ là biên giới đất liền, vùng trời hay vùng biển được giữ vững bằng khí tài quân sự mà còn bao gồm cả không gian mạng. Độc lập hôm nay phải là tự chủ chiến lược trên tất cả các không gian chiến lược phát triển quốc gia.

Đó là sự tự chủ về đường lối, không bị cuốn vào vòng xoáy tranh chấp của các nước lớn.

Đó là sự tự chủ về kinh tế, không để quốc gia rơi vào bẫy lệ thuộc hay trở thành vùng trũng gia công toàn cầu.

Đó là sự tự chủ về công nghệ và dữ liệu, bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia.

02......095068139.jpg
Khối nữ Dân quân các dân tộc Việt Nam tại Lễ diễu binh, diễu hành chào mừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Nhật Bắc

Đó là độc lập về văn hóa, giữ gìn căn cước dân tộc - sợi chỉ đỏ trầm tích, kết tinh và tỏa sáng vĩnh hằng tâm hồn, cốt cách, khí phách Việt trước toàn cầu hóa.

Một nền kinh tế tự chủ, lấy nội lực làm gốc, lấy ngoại lực làm đột phá là chiếc khiên vững chắc nhất giữ gìn độc lập dân tộc. Việt Nam không chọn bên, thường trực chọn chính nghĩa, chọn luật pháp quốc tế hiện thực và chọn việc bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc khác thống nhất với lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam.

Gốc độc lập đất nước vững thì cây thể chế quốc gia bền. Độc lập chính là nền móng dân tộc, là bệ đỡ căn bản, là tiền đề bất di bất dịch để bảo đảm tự do và hạnh phúc cho Nhân dân.

Tự do và phát triển: Trụ cột giải phóng mọi nguồn lực sáng tạo

Triết lý phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên phú cường dựa trên hai trụ cột cốt lõi: Tự do và Phát triển. Như một quy luật tất yếu của lịch sử, đỉnh cao của tự do là sự tự giác. Khi tự do của mỗi cá nhân hòa quyện cùng lợi ích cộng đồng sẽ tạo ra một xung lực phát triển vô song.

Tự do không phải là sự tùy tiện vô chính phủ mà là sự giải phóng toàn diện sức lao động, tư duy và óc sáng tạo của con người. Một xã hội tiến bộ là nơi luật pháp không phải để trói buộc mà là để khơi thông và phát triển.

Trân trọng tự do tư duy: Khuyến khích cái mới, chấp nhận thử nghiệm, bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Bảo vệ tự do kinh doanh: Kiến tạo không gian lành mạnh cho mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là đội ngũ doanh nhân Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam cống hiến và làm giàu chính đáng.

Cổ vũ tự do học thuật: Thúc đẩy tri thức, biến khoa học công nghệ thành lực lượng sản xuất trực tiếp hàng đầu.

Lịch sử Đổi mới chứng minh, ở đâu thể chế cởi trói, ở đó mọi tiềm năng và sức mạnh của Nhân dân bùng nổ, là động lực chuyển hóa từ một quốc gia đang phát triển thành một quốc gia phát triển hiện đại và văn hiến.

Hạnh phúc của Nhân dân: Thước đo tối cao của chế độ

Đảng lãnh đạo, cầm quyền để làm gì? Nhà nước kiến tạo để làm gì? Câu trả lời đanh thép và giản dị nhất: Tất cả vì hạnh phúc của Nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Sự phát triển phải quy đổi thành nụ cười, ấm no, sự an toàn và lòng tự hào của từng người dân, từ biên cương hẻo lánh đến đô thị phồn hoa.

Trong triết lý phát triển của kỷ nguyên mới, toàn bộ sự phát triển phải xoay quanh Nhân dân. Chúng ta không chạy theo những con số tăng trưởng GDP thuần tuý nếu nó phải đánh đổi bằng sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường hay tạo ra hoặc khoét hố sâu phân cực xã hội, phân hóa giàu nghèo.

Hạnh phúc là một hệ thống an sinh xã hội vững chắc, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Hạnh phúc là một nền giáo dục quốc dân nhân văn, phát triển toàn diện bản lĩnh, tâm hồn và khí phách con người Việt Nam.

Hạnh phúc là một nền y tế tiên tiến, bảo vệ giống nòi và sức khỏe nhân dân.

Hạnh phúc là một môi trường sống xanh, giữ thiên nhiên bền vững cho muôn đời con cháu mai sau.

Khi Nhân dân cảm nhận được hạnh phúc, niềm tin chiến lược với chế độ sẽ trở thành thành trì kiên cố nhất và bất khả xâm phạm. Sức mạnh vô địch của Nhân dân chính là chiếc "chìa khóa" vạn năng để mở ra cánh cửa của tương lai đất nước và Nhân dân làm chủ đất nước của mình.

Thống nhất toàn diện: Sức mạnh của khối đại đoàn kết và sự phát triển đồng bộ quốc gia

Thống nhất không chỉ là sự vẹn toàn về lãnh thổ địa lý vốn đã được định hình bằng xương máu của biết bao thế hệ mà bao hàm các không gian chiến lược quốc gia phát triển. Thống nhất trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi một chiều sâu tư duy mới: Thống nhất ý chí, thống nhất hành động và thống nhất về thể chế.

Sự chia rẽ, cục bộ địa phương, tư duy nhiệm kỳ hay lợi ích nhóm chính là những virus tàn phá sức mạnh quốc gia. Quốc gia muốn khỏe mạnh, các tỉnh, thành phố phải thống nhất không gian phát triển và vận hành nhịp nhàng; đất nước muốn vươn mình, hệ thống chính trị phải tinh gọn, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.

Thống nhất giữa nói và làm: Xóa bỏ tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", nghị quyết thì hay, triển khai thì dở.

Thống nhất giữa các vùng miền: Kết nối hạ tầng chiến lược, thu hẹp khoảng cách và liên kết các không gian phát triển quốc gia giữa các vùng động lực, các khu vực trọng điểm và khó khăn.

Đại đoàn kết toàn dân tộc: Tập hợp sức mạnh của hơn một trăm triệu đồng bào trong nước và triệu tâm hồn Việt ở nước ngoài, không phân biệt quá khứ, giai tầng, cùng hướng về một mục tiêu chung xây dựng Việt Nam phú cường.

Sự thống nhất về mặt chính trị, dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, là lợi thế cạnh tranh chiến lược của Việt Nam trong một thế giới đang khủng hoảng về quản trị và phân rã về liên minh. Đó là sự dồn tụ và tỏa sáng sau hơn 1000 năm, kể từ năm 938 - Ngô Quyền đại thắng trên sông Bạch Đằng và giành lại nền độc lập cho Tổ quốc.

Phú cường và văn hiến: Tầm nhìn danh dự thế kỷ

Đích đến của hành trình thế kỷ XXI là một Việt Nam phú cường.

Nhưng phú cường của Việt Nam mang một bản sắc riêng: Giàu có về vật chất đi đôi với sự phong phú về tinh thần; mạnh mẽ về vị thế kinh tế, quân sự nhưng ngời sáng về văn hóa, văn hiến. Phát triển kinh tế phải song hành cùng phát triển văn hóa và hơn lúc nào hết, văn hóa là nền tảng tinh thần, là tấm căn cước, là hệ điều hành và hệ miễn dịch của quốc gia.

“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”!

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trên hành trình vĩ đại ấy, khát vọng dân tộc không dừng lại ở những con số tăng trưởng kinh tế thuần tuý, dù rằng rất căn bản và quan trọng, mà hòa quyện trong một triết lý phát triển bền vững: Xây dựng một Việt Nam phú cường và nhân văn. Đó là sự gắn kết biện chứng giữa thực lực vật chất và chiều sâu giá trị tinh thần, là mục tiêu tối thượng của sự nghiệp đổi mới đất nước.

Quốc gia phú cường là cái nền, là bệ đỡ vật chất không thể thiếu. Một quốc gia không thể độc lập, tự chủ toàn vẹn nếu nghèo nàn, không thể có tiếng nói nếu lạc hậu.

Sự phú cường phải được đo bằng quy mô nền kinh tế, bằng hạ tầng đồng bộ, bằng công nghệ số và nội lực quốc gia vững mạnh. Nhưng tư tưởng phát triển hiện đại chỉ ra rằng, sự giàu có về vật chất không đồng nghĩa với văn minh. Chính vì vậy, nhân văn là cái lõi, là linh hồn của sự phú cường.

Nhân văn chính là bản sắc văn hóa Việt Nam, là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, tình đồng bào và sự khoan dung. Một xã hội nhân văn là nơi sự phát triển kinh tế phục vụ con người, lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực. Ở đó, không ai bị bỏ lại phía sau, thành quả đổi mới được phân phối công bằng, quyền con người và phẩm giá con người được tôn trọng tuyệt đối trên nền tảng pháp quyền và đạo lý dân tộc.

Để hiện thực hóa khát vọng nhân văn, cấp bách phải kiên quyết chống lại sự "ngụy khai phóng" trên không gian biên giới mạng hiện nay. Những luồng tư tưởng xa lạ nhân danh "tự do", "dân chủ" lệch lạc đang cố tình hạ thấp các giá trị đạo đức truyền thống, bôi đen lịch sử và gieo rắc sự hoài nghi lịch sử dân tộc. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ vững bản sắc văn hóa chính là cách chúng ta bảo vệ mạch nguồn nhân văn của dân tộc trước sóng gió thời đại số.

Hành trình xây dựng Việt Nam phú cường và nhân văn đòi hỏi hành động quyết liệt của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân. Thể chế phải tiếp tục được hoàn thiện để giải phóng mọi năng lực sản xuất, khơi thông nguồn lực vật chất, đồng thời tạo không gian cho các giá trị văn hóa, đạo đức phát triển. Mỗi người Việt Nam, từ cán bộ, đảng viên đến người dân bình thường, cần nuôi dưỡng khát vọng cống hiến lớn lao, sống có trách nhiệm với cộng đồng.

Mục tiêu năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước - trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao là hoàn toàn khả thi nếu chúng ta thực hiện thành công cuộc cách mạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Phát triển tri thức hóa toàn xã hội theo hướng dịch chuyển từ dựa vào tài nguyên thô và lao động giá rẻ sang kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI); không ngừng xanh hóa toàn bộ nền kinh tế, chủ động đón đầu xu thế chuyển dịch năng lượng, phát triển bền vững và cam kết phát thải ròng bằng không; đồng thời, phát triển quốc gia số xứng đáng, trước hết số hóa toàn diện Chính phủ, nền kinh tế và xã hội, biến dữ liệu thành tài nguyên chiến lược mới.

Việt Nam phú cường không phải để bá quyền mà để tự chủ và đóng góp tích cực hơn vào nền hòa bình, thịnh vượng của nhân loại, xứng đáng tiêu biểu cho những giá trị nhân văn tiến bộ của thời đại.

Đó chính là bản sắc khẳng định vị thế, sức mạnh, uy tín và danh dự mới đất nước trên trường quốc tế.

Nâng cao sứ mệnh cầm quyền của Đảng và năng lực quản trị quốc gia của Nhà nước

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để hiện thực hóa khát vọng vĩ đại ấy, nhân tố quyết định sinh mệnh của quốc gia chính là sự gắn kết biện chứng giữa sứ mệnh cầm quyền của Đảng và năng lực quản trị của Nhà nước ngang tầm công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ.

Đó không chỉ là vấn đề khoa học chính trị mà là quy luật sinh tồn và phát triển của chế độ ta. Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, cầm quyền và Nhà nước quản trị hiện đại là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó máu thịt. Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng càng không phải là một đặc quyền tự có, mà là một sứ mệnh lịch sử được Nhân dân giao phó, được thử thách qua máu lửa của các cuộc cách mạng. Vì, hơn bất cứ một lực lượng chính trị nào khác, Đảng ta không chỉ là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của Nhân dân mà còn là “con nòi” của Nhân dân ta và dân tộc ta.

Đảng tiên phong về tầm nhìn, trí tuệ và đạo đức soi đường cho quốc gia hành động và dẫn dắt dân tộc vào kỷ nguyên mới.

Nâng cao sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền trước hết là giữ vững bản chất cách mạng, tính tiền phong và sự trong sạch tuyệt đối của Đảng. Đảng lãnh đạo bằng tầm nhìn chiến lược, bằng lý luận tiên phong, nhưng quan trọng nhất là bằng niềm tin chiến lược trong lòng Nhân dân. Niềm tin ấy chính là gốc rễ của quyền lực chính trị chính đáng, chính pháp và chính tâm.

Đảng tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, loại bỏ những mắt xích trung gian, phân cấp phân quyền triệt để theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm". Đồng thời, xây dựng một đội ngũ cán bộ chiến lược ngang tầm nhiệm vụ: Những người có tầm viễn kiến, tư tưởng lớn, bản lĩnh văn hóa, trí tuệ khoa học và trên hết là tấm lòng tận tụy vị quốc, nâng niu niềm tin và bảo vệ Nhân dân - tài sản vô giá nhất của dân tộc.

Đến lượt mình, Đảng luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự mình trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh. Kiên quyết, kiên trì quét sạch chủ nghĩa cá nhân, giặc nội xâm tham nhũng, lãng phí - những lực cản trực tiếp đối với sự phát triển đất nước. Và, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thật sự “giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” làm hạt nhân, là rường mối và động lực quy tụ sức mạnh toàn dân tộc; tự mình kháng thể trước mọi luận điệu làm tổn thương vị thế lịch sử, mưu toan bôi nhọ vai trò và năng lực lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng.

Dưới ngọn cờ của Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không ngừng nâng cao toàn diện năng lực quản trị quốc gia hiện đại và văn minh. Nhà nước giải quyết những công việc lớn mang tính xoay chuyển vận mệnh và cục diện quốc gia: kiến tạo một hệ thống thể chế đồng bộ, phù hợp để khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực kinh tế - xã hội; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ; đột phá mạnh mẽ vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lấy kinh tế số, xã hội số làm bệ phóng bứt phá. Phát triển bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; dỡ bỏ triệt để tình trạng thân hữu, cục bộ, cát cứ và áp đặt song hành với xây dựng đội ngũ công chức, viên chức tinh gọn, tinh thông, chuyên nghiệp, hiện đại, thượng tôn pháp luật và đặc biệt là tinh thần dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích Tổ quốc.

Một Nhà nước quản trị giỏi là một Nhà nước biết lấy sự hài lòng, hạnh phúc của Nhân dân và sự thịnh vượng của quốc gia làm thước đo tối cao cho mọi chính sách và hệ thống pháp luật thống nhất và hiện đại.

Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước; và, Nhà nước thực thi trọng trách của mình, dưới ngọn cờ của Đảng, thiết kế một nền quản trị quốc gia hiện đại, pháp quyền và đạo lý một cách dân chủ, phá vỡ các rào cản hành chính đang kìm hãm các nguồn lực. Khi sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng hóa thân bằng tầm nhìn và đạo đức một cách tự nhiên, thống nhất trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, quốc gia nhất định sẽ phát triển bền vững, định vị vị thế phú cường và văn minh trên trường quốc tế.

Tám mươi mốt năm trước, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới ngọn cờ của Đảng, đưa "nước Việt Nam từ trong máu lửa, rũ bùn đứng dậy sáng lòa", khai sinh nền dân chủ cộng hòa.

40 năm trước, công cuộc đổi mới đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội hiểm nghèo, phát triển toàn diện và đồng bộ. Và, trên nền móng lịch sử ấy, dân tộc vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, khẳng định tầm vóc văn minh của một dân tộc độc lập, tự chủ chiến lược, văn hiến và hội nhập toàn cầu.

Tầm viễn kiến năm 2045 đã bao quát, đường lớn chiến lược đã mở, mục tiêu 20 năm đã định, phương lược chủ đạo đã hình thành, trăm triệu trái tim tự do cùng đập nhịp, Tổ quốc thống nhất, kết nối năm châu, nhất định sự đồng lòng của hơn 100 triệu đồng bào dù trong nước hay ở nước ngoài sẽ kết thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Việt Nam sẽ sánh vai cùng các quốc gia phát triển trong toàn cầu. Đó là khát vọng và danh dự Việt Nam!

Ts. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản