Kinh tế

Đưa giá trị văn hóa thành sức cạnh tranh cho đặc sản vùng cao

Trúc Oanh 27/08/2026 13:48

Đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng hiện diện rộng hơn trên thị trường. Tuy nhiên, khoảng cách từ giá trị văn hóa đến giá trị kinh tế vẫn lớn khi chất lượng, truy xuất nguồn gốc, logistics và năng lực thương mại còn là những nút thắt.

1787823201823_1486993439252672435_g2822012600541959992_32e5d4f4f0214607bc157efa8dc44cac.jpg
Toàn cảnh Tọa đàm. Ảnh: Trúc Oanh
Bà con thu hái chè Shan tuyết xã Phìn Hồ. Ảnh- Cẩm Vân
Bà con thu hái chè Shan tuyết ở Tuyên Quang. Ảnh: Cẩm Vân

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần cần gìn giữ mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho phát triển bền vững.

Tại Tọa đàm “Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: khơi dậy nguồn lực văn hóa, nâng tầm đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 27/8, các chuyên gia cho rằng văn hóa đang mở ra dư địa phát triển mới cho sản phẩm vùng cao, nhưng tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng.

Có sản phẩm chưa đồng nghĩa đứng vững trên thị trường

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi lưu giữ nguồn tài nguyên phong phú về bản sắc, nghề truyền thống, tri thức bản địa, sản vật đặc hữu và kinh nghiệm sản xuất được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Những giá trị này đang từng bước được chuyển hóa thành sản phẩm. Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Mông, Thái, Dao được phát triển thành sản phẩm thời trang, quà tặng và phục vụ du lịch. Chè Shan tuyết vùng cao được định vị không chỉ bằng chất lượng nông sản mà còn bởi điều kiện sinh thái, cây chè cổ thụ, tri thức canh tác và câu chuyện cộng đồng. Du lịch cộng đồng tại nhiều địa bàn người Thái, Mông, Tày, Dao sinh sống cũng tạo thêm việc làm, thu nhập tại chỗ.

Đến tháng 6/2025, cả nước có hơn 16.800 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên của hơn 9.800 chủ thể, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 17% số chủ thể. Theo bà Huệ, đây là tín hiệu cho thấy lợi thế về văn hóa, tri thức và điều kiện tự nhiên đang dần được chuyển hóa thành giá trị kinh tế.

Tuy nhiên, theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, sản phẩm “có mặt trên thị trường” chưa đồng nghĩa với việc “đứng vững trên thị trường”.

Nhiều đặc sản như trà Shan tuyết cổ thụ, gạo Séng Cù, mật ong bạc hà, miến dong, dược liệu, thổ cẩm đã vượt khỏi phạm vi “quà quê”, xuất hiện nhiều hơn tại đô thị, hệ thống bán lẻ và một số thị trường ngoài nước. Đây cũng là nhóm sản phẩm có lợi thế khi người tiêu dùng, nhất là phân khúc trung và cao cấp, ngày càng quan tâm tới nguyên liệu bản địa, quy trình sản xuất đáng tin cậy, câu chuyện con người và những tác động tích cực tới cộng đồng.

Song những giá trị này chưa được chuyển hóa đầy đủ thành lợi thế cạnh tranh. Không ít sản phẩm vẫn phụ thuộc vào hội chợ, tuần hàng hoặc mùa vụ, trong khi số sản phẩm duy trì được doanh số ổn định, đơn hàng thường xuyên trong hệ thống phân phối hiện đại còn hạn chế.

Ông Tuấn chỉ ra 5 nút thắt gồm nguồn cung và chất lượng chưa ổn định; truy xuất nguồn gốc chưa thực sự trở thành “hộ chiếu niềm tin”; câu chuyện văn hóa chưa được chuyển thành ngôn ngữ thị trường; chi phí logistics cao; năng lực thương mại của nhiều hợp tác xã, cơ sở sản xuất chưa theo kịp yêu cầu của kênh phân phối hiện đại.

Bảo tồn văn hóa phải tạo sinh kế cho cộng đồng

Theo các chuyên gia, để thu hẹp khoảng cách từ giá trị văn hóa tới giá trị kinh tế, cách tiếp cận cần chuyển từ “bảo tồn những gì đang có” sang “bảo tồn để phát huy và phát triển”. Quá trình này phải gắn với sinh kế bền vững và bảo đảm cộng đồng là chủ thể, trực tiếp hưởng lợi.

Hợp tác xã Nông sản Phú Lương tại Thái Nguyên là một ví dụ. Thành lập năm 2020 tại xóm Khau Lai, xã Hợp Thành, nơi hơn 80% dân số là người Tày, hợp tác xã phát triển các đặc sản địa phương, trong đó Trà Tôm Nõn Hương Quê được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Theo Giám đốc hợp tác xã Tống Văn Viện, kinh nghiệm sản xuất chè truyền thống được kết hợp với kỹ thuật hiện đại, chế biến chuyên sâu và tiêu chuẩn chất lượng. Bản sắc Tày cũng trở thành một phần của thương hiệu, từ hình ảnh cô gái Tày trên bao bì đến không gian nhà sàn, trải nghiệm sao sấy chè, thưởng trà, hát Then, đàn Tính.

Tại Phú Thọ, nhiều mô hình cũng chuyển từ vài hộ làm du lịch sang cộng đồng cùng tham gia, kết hợp lưu trú, ẩm thực, dệt thổ cẩm và trải nghiệm văn hóa. Tỉnh hiện có 696 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, gồm 6 sản phẩm 5 sao và 106 sản phẩm 4 sao. Livestream, chuyển đổi số và các nền tảng truyền thông cũng mở thêm kênh quảng bá, tiêu thụ.

Để các mô hình này được nhân rộng, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ cho rằng cần giải quyết bài toán liên kết chuỗi dựa trên bốn nguyên tắc: cộng đồng là chủ thể; phát triển không làm mất bản sắc; cộng đồng phải được hưởng lợi; chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị.

Theo định hướng thời gian tới, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, điều phối nguồn lực; địa phương tổ chức thực hiện; doanh nghiệp kết nối thị trường, hoàn thiện sản phẩm và xây dựng thương hiệu; cộng đồng gìn giữ, sáng tạo và trực tiếp hưởng lợi.

Ở góc độ thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước định hướng chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang phân nhóm sản phẩm và thị trường; từ truy xuất hành chính sang xây dựng “hộ chiếu số”; từ quảng bá ngắn hạn sang kết nối có cam kết và từ từng hộ riêng lẻ sang cụm liên kết với chuỗi cung ứng.

Hiệu quả hỗ trợ cũng sẽ được nhìn nhận qua những chỉ số cụ thể hơn như doanh số, tỷ lệ tái đặt hàng, phần thu nhập giữ lại tại địa phương và số việc làm bền vững được tạo ra. Đây được xem là cơ sở để giá trị văn hóa không chỉ hiện diện trong câu chuyện của sản phẩm mà thực sự trở thành giá trị kinh tế và sinh kế lâu dài cho cộng đồng.

Trúc Oanh