Tìm lời giải tài chính cho mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân
Chi phí khám, chữa bệnh BHYT tăng khoảng 8 lần trong 14 năm, trong khi già hóa dân số và bệnh không lây nhiễm tiếp tục gây sức ép lên hệ thống y tế. Bài toán đặt ra là làm thế nào mở rộng nguồn lực, giảm chi tiền túi của người dân và tăng đầu tư cho phòng bệnh để bảo đảm bền vững mục tiêu BHYT toàn dân.
Phiên chuyên đề “Đổi mới đột phá tài chính y tế đáp ứng yêu cầu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới”, trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học Tổng hội Y học Việt Nam ngày 28/8, đặt ra một câu hỏi lớn: Nguồn lực nào để Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 72-NQ/TW?
Đó là những mục tiêu gắn trực tiếp với quyền lợi của người dân: giảm chi tiền túi cho y tế, khám và sàng lọc sức khỏe định kỳ, củng cố y tế cơ sở và hướng tới miễn phí khám, chữa bệnh cơ bản vào năm 2030.

Khoảng trống tài chính ngày càng lớn
Việt Nam đang có một nền tảng thuận lợi khi Bảo hiểm y tế (BHYT) đã gần bao phủ toàn dân. Nhưng cùng với đó, sức ép lên hệ thống y tế ngày càng rõ.
Bệnh không lây nhiễm hiện chiếm 81% số ca tử vong. Chi phí khám, chữa bệnh BHYT đã tăng khoảng 8 lần trong 14 năm, lên 123 nghìn tỷ đồng vào năm 2023.
Theo phân tích của Nhóm Nghiên cứu Công nghệ Y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE) cho thấy, khoảng trống tài khóa y tế có thể tăng từ 279 nghìn tỷ đồng lên 510 nghìn tỷ đồng vào năm 2030 nếu không có giải pháp phù hợp.
Con số này cho thấy những mục tiêu lớn về chăm sóc sức khỏe khó có thể thực hiện nếu chỉ trông vào một nguồn tiền.
Tại hội nghị, Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế xác định mục tiêu trong giai đoạn tới là “từng bước mở rộng quyền lợi chăm sóc sức khoẻ, giảm chi phí y tế cho người dân”, góp phần thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW.
Để làm được điều đó, một trong những hướng đi được Bộ Y tế đặt ra là đa dạng hóa nguồn tài chính, bên cạnh tăng chi ngân sách và tăng mức đóng BHYT theo lộ trình.
Tìm thêm nguồn lực từ thuế thuốc lá, rượu bia…
Một đề xuất đáng chú ý tại hội nghị là dành thêm nguồn thu từ những sản phẩm có hại cho sức khỏe để đầu tư trở lại cho y tế.
Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế đề xuất mô hình phân bổ linh hoạt, trong đó 60–80% nguồn thu bổ sung có thể dành cho Quỹ BHYT, phần còn lại cho Quỹ Phòng bệnh và ngân sách chung, theo lộ trình thể chế hóa giai đoạn 2026–2030.
Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế đề xuất: “Nghiên cứu cơ chế sử dụng một phần kinh phí từ các quỹ phòng, chống tác hại thuốc lá, thuế rượu, bia, đồ uống có đường… để chi trả BHYT cho một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc, chẩn đoán và phát hiện sớm một số bệnh, đặc biệt là các bệnh không lây nhiễm.”
Như vậy, câu chuyện không chỉ là tìm thêm tiền, mà còn là đưa nguồn lực đến sớm hơn: cho phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính và phát hiện bệnh trước khi phải điều trị tốn kém.

BHYT bổ sung không thay thế BHYT xã hội
Tại hội nghị, bên cạnh nguồn lực công, BHYT bổ sung, các đại biểu đề xuất huy động thêm nguồn lực xã hội.
Theo Vụ Bảo hiểm y tế, BHYT bổ sung, bảo hiểm sức khỏe thương mại và các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người tham gia BHYT là những nguồn tài chính cần được nghiên cứu trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, ranh giới giữa BHYT xã hội và bảo hiểm bổ sung cần được xác định rõ.
Từ kinh nghiệm các nền kinh tế APEC, bà Sejal Mistry, Crowell Global Advisors cho rằng cần “củng cố khung pháp lý và quy định để SupHI hoạt động như một phần bổ sung cho hệ thống y tế công cộng”; đồng thời xác định rõ quyền lợi cơ bản của BHYT công và cơ chế phối hợp giữa hai hệ thống. Thực tế tại Việt Nam, thị trường này còn khá nhỏ.
Theo tham luận của Techcom Insurance tại hội nghị, chỉ khoảng 1 trong 10 người Việt Nam có bảo hiểm sức khỏe tư nhân, chủ yếu ở nhóm người đi làm có thu nhập khá hơn.
Vì thế, BHYT bổ sung có thể mở thêm một kênh huy động nguồn lực, nhưng không thay thế vai trò của tài chính công và BHYT xã hội.

Từ trả tiền chữa bệnh đến đầu tư cho phòng bệnh
Theo Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế, trong giai đoạn tới cần nghiên cứu sử dụng nguồn thu mới để chi trả cho phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc và phát hiện sớm bệnh, đặc biệt là bệnh không lây nhiễm.
Cùng với đó là yêu cầu sử dụng Quỹ BHYT hiệu quả hơn, từ lựa chọn thuốc, thiết bị y tế và dịch vụ kỹ thuật bảo đảm chi phí - hiệu quả, tăng hiệu quả đàm phán giá đến kiểm soát lạm dụng, trục lợi Quỹ.
Tại hội nghị, các đại biểu thống nhất chuyển dịch tài chính y tế từ chi trả thụ động sang đầu tư chủ động cho phòng bệnh là hướng đi cần thiết để vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa nâng cao tính bền vững của Quỹ BHYT.
Bởi vậy, bài toán tài chính y tế những năm tới không chỉ nằm ở câu hỏi có thêm bao nhiêu tiền, mà quan trọng hơn là tiền đến từ đâu và được sử dụng như thế nào.
Với cách tiếp cận đa nguồn lực, cùng sự phối hợp giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và các bên liên quan, Việt Nam có cơ hội thu hẹp khoảng cách giữa nguồn lực hiện có và nguồn lực cần thiết để thực hiện các cam kết đến năm 2030, hướng tới một nền tảng tài chính bền vững hơn cho BHYT toàn dân.