Lập pháp

Từ Nghị định số 81/2019/NĐ-CP đến Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt: Yêu cầu chiến lược trong tình hình mới

Thượng tá, TS. ĐẶNG HUY HIỆP, Chỉ huy trưởng Trung tâm 81 28/08/2026 19:07

Trong bối cảnh thế giới phân mảnh địa - chính trị sâu sắc, các cơ chế kiểm soát quốc tế suy yếu và công nghệ lưỡng dụng bùng nổ, công tác phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (VKHDHL) không còn chỉ là vấn đề riêng của quốc gia hay một khu vực. Đây đã trở thành yêu cầu sống còn đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và hòa bình quốc tế. Quốc gia nào không chủ động kiểm soát nguy cơ từ sớm, từ xa sẽ khó bảo vệ chủ quyền, khó duy trì môi trường hòa bình để phát triển và khó khẳng định vị thế thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Nghị định số 81/2019/NĐ-CP đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử

Những năm gần đây, minh chứng rõ nhất là xung đột Nga - Ukraine, căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, tình hình Trung Đông phức tạp, cùng sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3D, công nghệ sinh học tổng hợp và tiến bộ đột phá trong lĩnh vực vật liệu mới.

Các chủ thể nhà nước và phi nhà nước có thể lợi dụng chuỗi cung ứng toàn cầu, hoạt động thương mại, logistics, chuyển giao công nghệ và hệ thống tài chính để tiếp cận vật liệu, thiết bị, phần mềm, dữ liệu hoặc nguồn lực phục vụ phổ biến VKHDHL.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành phiên họp
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành phiên thảo luận về dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Phạm Thắng

Nguy cơ không chỉ xuất hiện khi vũ khí bị sử dụng, mà còn bắt đầu từ việc cung cấp tiền, hỗ trợ tài chính, trung chuyển, môi giới, che giấu thông qua các giao dịch bề ngoài hợp pháp. Vì vậy, minh bạch, truy xuất được nguồn gốc, nhận diện đúng chủ thể và xử lý từ sớm thông tin xuyên quốc gia phải trở thành yêu cầu có tính nguyên tắc.

Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng cấp thiết. Là quốc gia hội nhập sâu rộng, có vị trí chiến lược, mạng lưới thương mại và logistics ngày càng mở rộng, Việt Nam đứng trước nguy cơ bị lợi dụng làm điểm trung chuyển, trung gian hoặc “cửa ngõ” cho các hoạt động phổ biến và tài trợ phổ biến VKHDHL.

Sự phát triển nhanh của kinh tế tư nhân, thương mại điện tử, tài chính số và tài sản số vừa tạo động lực tăng trưởng, vừa mở rộng không gian mà các đối tượng có thể lợi dụng. Trong khi đó, hệ thống pháp lý hiện hành còn phân tán, thiếu đồng bộ; chưa điều chỉnh đầy đủ các hành vi và biện pháp quản lý mới, nhất là kiểm soát ngoài danh mục, chuyển giao phi vật thể, tài sản số, chủ sở hữu hưởng lợi và cảnh báo sớm.

Khoảng trống này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý trong nước mà còn tác động trực tiếp đến uy tín quốc tế và kết quả đánh giá của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF).

Từ thực tiễn đó, yêu cầu mới của công tác phòng, chống phổ biến VKHDHL không còn dừng ở tuyên truyền, nâng cao nhận thức hoặc phối hợp hành chính thông thường.

Cần một khung pháp lý đủ mạnh để tội phạm hóa đầy đủ hành vi phổ biến và tài trợ phổ biến; thiết lập cơ chế kiểm soát đặc thù nhưng không tạo rào cản không cần thiết đối với hoạt động hợp pháp; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm; chia sẻ dữ liệu liên ngành; nâng cao năng lực phản ứng kịp thời; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia với quyền tự do kinh doanh, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

qh1.jpg
Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Lâm Hiển

Nghị định số 81/2019/NĐ-CP đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử khi lần đầu tiên tạo lập khung pháp lý tương đối toàn diện về phòng, chống phổ biến VKHDHL, hình thành cơ chế đầu mối quốc gia, thúc đẩy phối hợp liên ngành và nâng cao nhận thức xã hội.

Tuy nhiên, sau hơn sáu năm thi hành, những hạn chế vốn có của nghị định ngày càng bộc lộ rõ. Vị thế pháp lý cấp nghị định chưa đủ mạnh để điều chỉnh các biện pháp có khả năng hạn chế quyền theo Hiến pháp; quy định về tội phạm phổ biến, tài trợ phổ biến, kiểm soát danh mục và kiểm soát ngoài danh mục chưa đầy đủ; cơ chế chia sẻ thông tin, cảnh báo sớm còn phân tán; nguồn lực và chế tài chưa tương xứng với mức độ phức tạp của thách thức. Những khoảng trống này cần được khắc phục bằng một đạo luật chuyên biệt, có hiệu lực pháp lý cao hơn và tầm bao quát rộng hơn.

Bước đột phá mang tính chiến lược trong hoàn thiện thể chế bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Việc nâng tầm Nghị định số 81/2019/NĐ-CP thành Luật không chỉ xuất phát từ những hạn chế kỹ thuật của văn bản dưới luật, mà trước hết là đòi hỏi chính trị, pháp lý mang tính chiến lược. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định yêu cầu luật hóa đến mức tối đa những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội.

img_9288_watermarked.jpeg
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm bên lề kỳ họp. Ảnh: Lâm Hiển

Trong lĩnh vực phòng, chống phổ biến VKHDHL, đây là một trong những vấn đề liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia và nghĩa vụ quốc tế. Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực thực thi các cam kết, thỏa thuận quốc tế gắn với hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật trong nước. Những định hướng đó đòi hỏi một đạo luật chuyên biệt, có hiệu lực cao, đủ sức điều chỉnh các quan hệ xã hội phức tạp và các nguy cơ mới phát sinh.

dbnd.1cdn.vn-2026-07-14-_quang-canh-phien-hop_watermarked.jpg
Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại thẩm tra sơ bộ dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Trung Thành

Trên bình diện quốc tế, yêu cầu càng trở nên rõ ràng. Nghị quyết 1540 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc yêu cầu các quốc gia thành viên phải ban hành và thực hiện các luật có hiệu lực thích hợp nhằm cấm các chủ thể phi nhà nước sản xuất, sở hữu, phát triển, vận chuyển, chuyển giao hoặc sử dụng VKHDHL; đồng thời triển khai các biện pháp hữu hiệu để kiểm soát vật liệu liên quan.

Song song với đó, Khuyến nghị số 7 của FATF yêu cầu áp dụng đầy đủ và không chậm trễ các biện pháp trừng phạt tài chính có mục tiêu liên quan đến tài trợ phổ biến VKHDHL. Việc chỉ dựa vào nghị định không còn đủ để bảo đảm mức độ tuân thủ và uy tín quốc tế mà Việt Nam đang theo đuổi.

Chính vì vậy, việc ban hành Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL là bước hoàn thiện thể chế có ý nghĩa đột phá. Đó là bước chuyển từ tư duy quản lý phân tán sang quản trị rủi ro thống nhất; từ xử lý vụ việc sang chủ động phòng ngừa; từ phối hợp hành chính sang điều phối liên ngành có trách nhiệm; từ kiểm soát hàng hóa hữu hình sang kiểm soát cả công nghệ, dữ liệu, dịch vụ, tài chính và chuỗi chuyển giao.

Luật phải tạo cơ sở để xây dựng hệ thống kiểm soát xuất khẩu chiến lược, nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi, xác minh người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng, đồng thời bảo đảm không cản trở hoạt động nghiên cứu khoa học, đầu tư, kinh doanh hợp pháp.

dbnd.1cdn.vn-2026-07-14-_chu-nhiem-uy-ban-quoc-phong-an-ninh-va-doi-ngoai-thuong-tuong-le-tan-toi-phat-bieu-1-_watermarked.jpg
Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại thẩm tra sơ bộ dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Trung Thành

Quá trình xây dựng dự án Luật được triển khai theo tinh thần phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan. Các cơ quan đã rà soát toàn diện hệ thống pháp luật hiện hành, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tổ chức hội thảo khoa học, lấy ý kiến chuyên gia, doanh nghiệp và đánh giá tác động chính sách. Hồ sơ dự án Luật được hoàn thiện ở mức độ cao, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua. Cách tiếp cận xuyên suốt là quản lý trên cơ sở rủi ro, không thiết lập một hệ thống cấp phép độc lập, không yêu cầu tổ chức, cá nhân khai báo hoặc báo cáo lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước, không thanh tra, kiểm tra trùng lặp với pháp luật chuyên ngành.

Việc nâng tầm Nghị định số 81/2019/NĐ-CP thành Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL là bước đột phá mang tính chiến lược trong hoàn thiện thể chế bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây không chỉ là sự chuyển đổi về cấp độ văn bản pháp lý, mà là sự khẳng định tư duy chủ động, tầm nhìn dài hạn trước những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp.

Luật được ban hành là cơ sở pháp lý vững chắc, toàn diện và ổn định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng bộ hóa và nội luật hóa đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế; xây dựng hệ thống kiểm soát xuất khẩu chiến lược; ngăn chặn tài trợ phổ biến; tăng cường năng lực thực thi và cơ chế phối hợp liên ngành.

Chuẩn bị đồng bộ các điều kiện thi hành

Để Luật thực sự đi vào cuộc sống, cần chuẩn bị đồng bộ các điều kiện thi hành ngay từ giai đoạn xây dựng, cụ thể như sau:

Một là, phải hoàn thiện cơ chế hoạt động của Cơ quan đầu mối quốc gia và cơ quan thường trực theo hướng rõ chức năng, rõ trách nhiệm, rõ quy trình phối hợp, rõ chế độ chia sẻ thông tin. Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện chức năng tham mưu, điều phối, tổng hợp, cảnh báo sớm và đôn đốc thực hiện; không làm thay chức năng quản lý chuyên ngành của các bộ, ngành. Mỗi bộ, ngành, địa phương phải xác định đầu mối chịu trách nhiệm, bảo đảm thông tin được xử lý kịp thời và quyết định được tổ chức thực hiện thống nhất.

dbnd.1cdn.vn-2026-07-14-_cac-dai-bieu-tham-du-phien-hop-1-_watermarked.jpg
Các đại biểu tham dự Phiên họp Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại thẩm tra sơ bộ dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Trung Thành

Hai là, cần xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về phòng, chống phổ biến VKHDHL theo hướng kết nối, liên thông và kế thừa dữ liệu chuyên ngành. Thông tin về danh mục kiểm soát, giấy phép, cảnh báo rủi ro, người sử dụng cuối cùng, giao dịch đáng ngờ và tổ chức, cá nhân bị chỉ định phải được cập nhật kịp thời, phân quyền truy cập chặt chẽ, bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân. Cơ chế cảnh báo sớm phải dựa trên thông tin có nguồn gốc rõ ràng, được phân tích và xác minh; đồng thời có quy trình tiếp nhận, xử lý và phản hồi để cảnh báo thực sự trở thành công cụ phòng ngừa, không biến thành căn cứ tùy nghi làm gián đoạn hoạt động hợp pháp.

Ba là, đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, yêu cầu tuân thủ phải được thiết kế tương xứng với quy mô, lĩnh vực và mức độ rủi ro. Nhà nước cần cung cấp hướng dẫn, công cụ số, bộ chỉ báo nhận diện, chương trình tuân thủ nội bộ giản lược và cơ chế tư vấn phù hợp; đồng thời có chính sách ghi nhận, ưu tiên đối với tổ chức, doanh nghiệp tuân thủ tốt. Đây là giải pháp vừa tăng hiệu quả kiểm soát, vừa giảm chi phí tuân thủ, tạo động lực để doanh nghiệp chủ động bảo vệ chính mình và góp phần bảo vệ an ninh quốc gia.

Bốn là, nguồn nhân lực cũng là điều kiện quyết định. Lực lượng nòng cốt cần được đào tạo chuyên sâu về pháp luật quốc tế, kiểm soát xuất khẩu, tài chính, công nghệ số, sinh học, hóa học, hạt nhân, phóng xạ và kỹ năng phân tích dữ liệu. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và diễn tập liên ngành phải được tiến hành thường xuyên, gắn với các tình huống thực tế, nhất là tình huống xuyên biên giới, chuyển giao phi vật thể, tài sản số và chuỗi cung ứng phức tạp. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật và học hỏi kinh nghiệm, nhưng phải bảo đảm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia và an ninh dữ liệu.

Năm là, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải được đổi mới theo từng nhóm đối tượng và địa bàn, tập trung vào doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao, hóa chất, sinh học, hạt nhân, logistics, tài chính, thương mại điện tử; các khu công nghiệp, khu kinh tế, cửa khẩu, cảng biển và địa bàn biên giới. Nội dung tuyên truyền cần chuyển từ phổ biến quy định chung sang hướng dẫn nhận diện dấu hiệu rủi ro, quy trình báo cáo, trách nhiệm lưu giữ hồ sơ và cách xử lý khi xuất hiện giao dịch, hàng hóa hoặc yêu cầu chuyển giao bất thường. Mục tiêu là giúp cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hiểu đúng để tự giác tuân thủ, không tạo tâm lý e ngại hoặc coi hoạt động kiểm soát là rào cản đối với sản xuất, kinh doanh hợp pháp.

Sáu là, duy trì cơ chế đánh giá hiệu quả thi hành Luật bằng kết quả thực chất. Việc sơ kết, tổng kết không chỉ thống kê số cuộc kiểm tra, số báo cáo hay số vụ việc xử lý, mà phải đo được năng lực phát hiện sớm, thời gian phản hồi cảnh báo, mức độ kết nối dữ liệu, chất lượng phối hợp liên ngành, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình. Những khó khăn, chồng chéo hoặc khoảng trống phát sinh phải được cập nhật, giải quyết kịp thời bằng văn bản hướng dẫn và điều chỉnh biện pháp quản lý theo rủi ro. Chỉ khi có cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình rõ ràng, Luật mới giữ được tính khả thi, ổn định và thích ứng trước sự thay đổi nhanh của khoa học, công nghệ và phương thức, thủ đoạn mới.

Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL không chỉ là công cụ pháp lý để thực hiện nghĩa vụ quốc tế, mà còn là “lá chắn pháp lý” bảo vệ đất nước trước những nguy cơ an ninh mới. Thành công của Luật sẽ không chỉ được đo bằng số vụ việc được phát hiện, ngăn chặn, mà quan trọng hơn là khả năng hình thành một hệ thống phòng ngừa chủ động, quản trị rủi ro hiệu quả, phối hợp thông suốt và tạo môi trường an toàn cho phát triển. Tổ chức thi hành nghiêm minh, đồng bộ, thực chất Luật có ý nghĩa quyết định để Luật đi vào cuộc sống, góp phần chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao uy tín và vị thế trong cộng đồng quốc tế.

Thượng tá, TS. ĐẶNG HUY HIỆP, Chỉ huy trưởng Trung tâm 81