Kinh tế

Đưa Kết luận số 75-KL/TW vào cuộc sống Nhà nước phải tạo “đường ray” cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh

Đan Thanh thực hiện 28/08/2026 07:16

TS. BÙI THANH MINH, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV, thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng) cho rằng, khi chuyển đổi xanh trở thành nhu cầu nội tại của nền kinh tế, Nhà nước cần tạo “đường ray” bằng chính sách rõ ràng, ổn định, có lộ trình và công cụ hỗ trợ doanh nghiệp, qua đó triển khai hiệu quả Kết luận số 75-KL/TW.

Sức ép chuyển đổi xanh mở ra thị trường mới

- Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới (Kết luận số 75-KL/TW) yêu cầu chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải carbon thấp, đồng thời tạo ra các ngành kinh tế mới. Từ thực tiễn làm việc với doanh nghiệp Việt, ông nhìn nhận cơ hội và sức ép của quá trình này như thế nào?

- Theo tôi, điều đầu tiên cần thay đổi là cách nhìn: chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu từ bên ngoài, mà đang trở thành nhu cầu nội tại của nền kinh tế.

TS. Bùi Thanh Minh
TS. Bùi Thanh Minh Ảnh: Duy Thông

Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó mục tiêu tăng trưởng cao phải đi cùng với nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên và chất lượng tăng trưởng. Mô hình dựa nhiều vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu vào sẽ ngày càng khó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Cùng với đó là áp lực rất mạnh từ thị trường quốc tế. Việt Nam có độ mở kinh tế lớn và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi Liên minh châu Âu (EU) áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), khi các tập đoàn đa quốc gia đặt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), hay khi ngân hàng và nhà đầu tư đưa tiêu chí xanh vào quyết định cấp vốn, các yêu cầu này sẽ nhanh chóng truyền dẫn sang doanh nghiệp Việt Nam.

Điều đáng lưu ý là carbon đang dần trở thành một thuộc tính của sản phẩm. Trong tương lai, bên cạnh giá, chất lượng và thời gian giao hàng, khách hàng sẽ hỏi sản phẩm phát thải bao nhiêu, sử dụng nguồn năng lượng nào, nguyên liệu có thể truy xuất hay không.

Nhưng sức ép đó đồng thời mở ra thị trường mới. Tôi nhìn thấy cơ hội lớn trong năng lượng sạch và hiệu quả năng lượng; kinh tế tuần hoàn và tái chế; nông nghiệp phát thải thấp; logistics xanh; công nghiệp môi trường; vật liệu mới, cùng một hệ sinh thái dịch vụ về kiểm kê carbon, MRV (đo đạc, báo cáo và thẩm định), ESG (môi trường, xã hội, quản trị), dữ liệu, chứng nhận và tài chính xanh.

Doanh nghiệp phải biết mình phát thải bao nhiêu, ở đâu

- Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức về chuyển đổi xanh nhưng vẫn chưa thể hành động. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?

- Qua làm việc với doanh nghiệp, vấn đề không hẳn là họ không muốn chuyển đổi. Họ biết phải chuyển đổi nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, lấy nguồn lực ở đâu và ai thực hiện. Có thể khái quát thành ba điểm nghẽn lớn: vốn, kỹ thuật và nhân lực.

Chuyển đổi xanh cần đầu tư ban đầu, nhưng để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp lại phải chứng minh hiệu quả giảm phát thải. Nghịch lý “cần vốn để xanh hóa, nhưng phải chứng minh đã đủ xanh mới có vốn” như chuyện “con gà quả trứng” rất cần được tháo gỡ.

Về kỹ thuật, doanh nghiệp cần biết phải giảm phát thải ở đâu, dùng công nghệ nào, chi phí và thời gian hoàn vốn ra sao. Thiếu hướng dẫn, tư vấn và mô hình đã được kiểm chứng, doanh nghiệp sẽ không làm hoặc đầu tư theo phong trào.

Về nhân lực, nhiều doanh nghiệp chưa có người hiểu đồng thời về sản xuất, năng lượng, carbon, dữ liệu và tiêu chuẩn quốc tế. Đây sẽ là một điểm nghẽn lớn nhất trong vài năm tới.

Vì vậy, không thể kỳ vọng hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa tự giải quyết bài toán này. Điều doanh nghiệp cần là một hệ sinh thái giúp họ chuyển từ nhận thức sang hành động.

- Kết luận số 75-KL/TW yêu cầu hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế. Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để không bị động trước những yêu cầu này, thưa ông?

- Cần nhìn nhận thẳng thắn rằng mức độ chuẩn bị của doanh nghiệp hiện rất không đồng đều. Một số doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp xuất khẩu hoặc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng FDI đã kiểm kê phát thải, làm báo cáo ESG và xây dựng mục tiêu giảm carbon. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn ở giai đoạn đầu, thậm chí chỉ quan tâm khi khách hàng yêu cầu cung cấp dữ liệu.

Khi chính sách về hạn ngạch phát thải, thị trường carbon và các yêu cầu quốc tế đang chuyển từ chuẩn bị sang thực thi, doanh nghiệp càng chậm chuẩn bị thì chi phí chuyển đổi càng lớn.

Theo tôi, việc đầu tiên là doanh nghiệp phải biết mình phát thải bao nhiêu và phát thải ở đâu, từ dữ liệu về điện, nhiên liệu, nguyên vật liệu, vận tải và chất thải. Trên cơ sở kiểm kê, doanh nghiệp xác định nguồn phát thải lớn để lựa chọn giải pháp giảm phát thải hiệu quả nhất.

Quan trọng hơn, kế hoạch giảm phát thải cũng cần gắn với đầu tư và nâng cao năng suất, thay vì tách ESG thành một báo cáo độc lập. Giảm điện, nhiên liệu, nguyên liệu, phế phẩm hay tối ưu logistics đều vừa giảm carbon, vừa giảm chi phí.

Doanh nghiệp cũng phải hình thành năng lực MRV. Trong nền kinh tế carbon thấp, không thể chỉ tuyên bố sản phẩm xanh mà phải có dữ liệu để chứng minh. Tín chỉ carbon cũng không thể thay thế giảm phát thải thực chất; trước khi nghĩ đến mua bán carbon, doanh nghiệp cần hiểu rõ phát thải của chính mình. Chính sách của Nhà nước cần đi trước để đa số doanh nghiệp có điểm tựa khi tiến hành chuyển đổi.

Biến chuyển đổi xanh thành động lực tăng trưởng

- Theo ông, cần làm gì để chuyển đổi xanh không phải là thêm một gánh nặng tuân thủ, mà thực sự trở thành động lực đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp?

- Theo tôi, đây là điểm mấu chốt. Nếu chuyển đổi xanh chỉ tạo thêm thủ tục, nghĩa vụ báo cáo, doanh nghiệp sẽ coi đó là chi phí; nhưng nếu giúp giảm chi phí, tiếp cận vốn, giữ khách hàng và mở thị trường mới, doanh nghiệp sẽ coi đó là đầu tư. Muốn vậy, cần hình thành hệ sinh thái chuyển đổi xanh với ba động lực.

Thứ nhất, Nhà nước phải tạo “đường ray” cho doanh nghiệp bằng chính sách rõ ràng, ổn định, có lộ trình 3 - 5 năm và các công cụ hỗ trợ về tài chính, công nghệ, tư vấn, đào tạo, dữ liệu. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên hỗ trợ theo hành trình từ đánh giá, kiểm kê, lựa chọn giải pháp đến tiếp cận tài chính và đo lường kết quả; Nhà nước có thể dùng nguồn lực công để chia sẻ rủi ro, thu hút vốn tư nhân.

Thứ hai là động lực thị trường. Nếu doanh nghiệp xanh được vay vốn tốt hơn, được ưu tiên làm nhà cung cấp, tham gia mua sắm xanh hoặc tiếp cận thị trường giá trị cao thì họ sẽ tự chuyển đổi. Doanh nghiệp lớn và FDI cũng cần đóng vai trò kéo chuỗi cung ứng cùng chuyển đổi.

Thứ ba là nội lực doanh nghiệp. Chuyển đổi xanh không thể chỉ là việc của phòng môi trường hay ESG. Nó phải trở thành một phần của chiến lược kinh doanh, quyết định đầu tư, thiết kế sản phẩm và quản trị sản xuất.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới, doanh nghiệp cũng cần một mô hình cạnh tranh mới: không chỉ cạnh tranh bằng lao động rẻ và quy mô, mà bằng năng suất, công nghệ, dữ liệu, đổi mới và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Từ nay đến 2030, theo tôi cần làm 3 bước. Giai đoạn 2026 - 2027 xây nền tảng, đặc biệt là tiêu chuẩn, MRV, dữ liệu, tư vấn và tài chính; sau đó nhân rộng từ doanh nghiệp tiên phong sang chuỗi cung ứng và ngàn; đến 2030 đánh giá kết quả không phải bằng số lượng báo cáo ESG, mà bằng năng suất, mức tiêu hao năng lượng - tài nguyên và khả năng tham gia các phân khúc giá trị cao. Trong thời gian tới, doanh nghiệp hãy nghĩ đến 3G để chuyển đổi: Go Digital, Go Green và Go Global.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện