Năm học 2026 - 2027: Đo lường kết quả bằng sự tiến bộ của người học, điều kiện làm việc của nhà giáo
Sáng 27/8, tại Hà Nội, Bộ GD-ĐT tổ chức Hội nghị Tổng kết năm học 2025 - 2026 và triển khai nhiệm vụ năm học 2026 - 2027. Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì Hội nghị.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn đồng chủ trì Hội nghị.

Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, năm học 2025 - 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Với sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và nỗ lực của toàn ngành, các nhiệm vụ năm học cơ bản được hoàn thành. Riêng Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71, đến nay đã hoàn thành 35/76 nhiệm vụ, không có nhiệm vụ quá hạn.
7 kết quả nổi bật trong năm học 2025 - 2026
Bộ GD-ĐT nhấn mạnh 7 kết quả nổi bật mà ngành Giáo dục đã đạt được trong năm học 2025 - 2026.
Thứ nhất, thể chế giáo dục được hoàn thiện với khối lượng lớn, nhiều chính sách mới đã đi vào thực tiễn. Trong năm học, Bộ GD-ĐT đã trình Quốc hội ban hành 3 luật, 2 nghị quyết của Quốc hội, 41 nghị định, nghị quyết, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và 79 thông tư Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, tập trung vào phân cấp, phân quyền, chính sách đối với nhà giáo và người học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Các chính sách miễn học phí, miễn phí sách giáo khoa, hỗ trợ bữa ăn, học bổng, tín dụng; tăng phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo; mở rộng tự chủ cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đã từng bước tạo chuyển biến, tác động tích cực đối với người học và đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Thứ hai, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục được triển khai quyết liệt. Đến ngày 20/8, 16 địa phương đã cơ bản hoàn thành sắp xếp; cả nước dự kiến hoàn thành trước ngày 30/8/2026. Số cơ sở giáo dục dự kiến giảm từ 37.515 xuống 18.575 cơ sở, tương ứng giảm 50,5%. Việc sắp xếp này tạo những trường liên cấp, trường nhiều cấp học.
Việc sắp xếp đồng thời tạo điều kiện bố trí lại đội ngũ; dự kiến giảm 32.625 hiệu trưởng, hiệu phó và 11.041 nhân viên, trong đó nhiều cán bộ quản lý được bố trí trở lại giảng dạy; từ đó số biên chế dự kiến bổ sung cho năm học 2026-2027 giảm từ 104.516 giáo viên xuống còn 43.267 giáo viên, tương đương với số biên chế giáo viên được giao năm 2025 chưa tuyển dụng và gần bằng số giáo viên đang hợp đồng. Cơ bản năm học mới không phải thêm biên chế cho giáo dục

Thứ ba, cơ hội tiếp cận giáo dục tiếp tục được mở rộng, chất lượng giáo dục phổ thông được duy trì.
Bộ GD-ĐT cho biết năm học 2025 - 2026 có khoảng 4,82 triệu trẻ mầm non và 19,08 triệu học sinh phổ thông đến trường; số học sinh vào lớp 10 năm học 2026 - 2027 tăng hơn 24% so với năm trước. Tính cả giáo dục thường xuyên, tỷ lệ người trong độ tuổi học trung học phổ thông và tương đương đạt 77,7%; tỷ lệ đi học trong độ tuổi đạt 98,3% ở tiểu học, 93,3% ở THCS và 67,5% ở THPT. Các chỉ số này đều cao hơn năm học trước.
Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định; tại các kỳ Olympic quốc tế năm 2026, học sinh Việt Nam đồng hạng Nhất toàn đoàn môn Hóa học, đồng thời duy trì trong nhóm 5 đến 8 quốc gia dẫn đầu các môn Toán, Vật lý, Sinh học và Tin học trong số khoảng 100 quốc gia tham gia.
Thứ tư, đội ngũ, cơ sở vật chất và giáo dục vùng khó khăn được quan tâm hơn. Chính sách đối với nhà giáo tiếp tục được hoàn thiện; Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp ưu đãi nghề từ 20% đến 80% đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục công lập đã được triển khai, thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước đối với các thầy, cô giáo và nhân viên ngành Giáo dục.
Chương trình xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được triển khai quyết liệt. 108 trường đợt đầu dự kiến đưa vào sử dụng từ đầu năm học mới, bổ sung 4.396 phòng học, 102 thư viện, bảo đảm điều kiện học tập cho hơn 113.000 học sinh. Từ năm học 2026 - 2027 sử dụng một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông thống nhất, giá bán giảm trung bình 13,3%.
Thứ năm, giáo dục đại học và đào tạo nhân lực chiến lược có chuyển biến rõ nét. Hơn 90 chương trình tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học; tỷ lệ sinh viên STEM nhập học năm 2026 đạt 33,6%, tiến sát mục tiêu 35% vào năm 2030; trong đó khoảng 11.000 sinh viên học các ngành khoa học cơ bản và 110.000 sinh viên học các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược. Những con số này đã khẳng định cơ cấu ngành nghề trong đào tạo nhân lực chất lượng cao đang đi đúng hướng.
Tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ tăng từ 32,6% lên 36,3%; số công bố khoa học quốc tế trong 8 tháng đầu năm 2026 bằng khoảng 80% cả năm 2025, ước cả năm tăng khoảng 20%. Số chương trình đào tạo được công nhận theo tiêu chuẩn nước ngoài tăng từ 621 chương trình cuối năm 2024 lên 755 chương trình tháng 7/2026.

Thứ sáu, giáo dục nghề nghiệp có bước chuyển về thể chế và mô hình phát triển. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở để cơ cấu lại mạng lưới, ngành nghề đào tạo; bổ sung mô hình trung học nghề, mở rộng tự chủ, liên thông và tăng vai trò của doanh nghiệp. Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa giáo dục và đào tạo dành nguồn lực đáng kể để phát triển mạng lưới trường cao đẳng chất lượng cao.
Thứ bảy, chuyển đổi số chuyển từ xây dựng nền tảng sang khai thác dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Cơ sở dữ liệu ngành đã cập nhật khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và trên 1,4 triệu giáo viên; tạo lập trên 18 triệu học bạ số và hơn 13 triệu văn bằng, chứng chỉ số. 100% thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học trực tuyến toàn trình, không dùng giấy tờ, tiền mặt.
Khung năng lực số cho người học và nhà giáo, bao gồm năng lực trí tuệ nhân tạo, được xây dựng và triển khai; nền tảng quản trị số giáo dục quốc gia được thử nghiệm để sử dụng chung từ năm học 2026 - 2027.
Năm học 2026 - 2027: Đo lường kết quả bằng sự tiến bộ của người học, điều kiện làm việc của nhà giáo
Năm học 2026 - 2027, toàn ngành Giáo dục xác định chủ đề: “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”. Trọng tâm là chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện, tập trung xử lý các điểm nghẽn và đo lường kết quả bằng sự tiến bộ của người học, điều kiện làm việc của nhà giáo, hiệu quả hoạt động của nhà trường và chất lượng nguồn nhân lực.

Bộ GD-ĐT cho biết sẽ tiếp tục tập trung 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Một là, đổi mới mạnh mẽ quản trị giáo dục. Hoàn thiện và triển khai trên nền tảng số các bộ chỉ số phát triển giáo dục quốc gia, địa phương và giáo dục đại học; cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết 71 thành chỉ số theo dõi hằng năm, có đường cơ sở, mốc trung gian đến năm 2030, rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Tăng kiểm tra, giám sát các lĩnh vực, địa phương chậm hoặc nhiều vướng mắc; đánh giá theo kết quả đầu ra và tác động.
Hai là, xử lý các điểm nghẽn về đội ngũ và cơ sở vật chất. Ưu tiên ngân sách và đầu tư công cho giáo viên, phòng học, thiết bị, trường nội trú biên giới, hạ tầng số, phòng thí nghiệm và đào tạo nhân lực chiến lược; hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo sứ mạng, chất lượng và kết quả đầu ra. Tăng điều động, hợp đồng, thỉnh giảng và chính sách thu hút đối với nhà giáo, môn học, ngành nghề, địa bàn khó tuyển. Thực hiện tốt mô hình trường nội trú biên giới, đánh giá và mở rộng tại các địa bàn khó khăn.
Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, kỷ cương và an toàn trường học. Tiếp tục tinh giản nội dung, nâng chất lượng giờ học chính khóa, tăng thực hành, trải nghiệm, STEM, năng lực số, trí tuệ nhân tạo, ngoại ngữ, nghệ thuật và thể chất; từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Giảm hồ sơ, hội họp không cần thiết; đổi mới kiểm tra, đánh giá; siết kỷ cương thi cử, tuyển sinh, dạy thêm, học thêm, thu chi; tăng tư vấn tâm lý, y tế trường học, an toàn thực phẩm, phòng chống bạo lực, xâm hại và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Hoàn thiện mô hình thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng bảo đảm gọn nhẹ, thực chất, phòng chống gian lận, tiêu cực.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Hoàn thiện nền tảng quản trị số giáo dục quốc gia; chuẩn hóa, làm sạch, kết nối, khai thác dữ liệu; sử dụng học bạ số, văn bằng số, VNeID và dữ liệu thi, tuyển sinh để giảm giấy tờ, báo cáo thủ công. Phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy học, đánh giá và cá thể hóa học tập gắn với quyền riêng tư, an toàn dữ liệu và liêm chính học thuật.
Năm là, tăng tốc phát triển nhân lực kỹ năng nghề cao. Cơ cấu lại mạng lưới, ngành nghề giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu thị trường; tập trung đầu tư cơ sở dẫn dắt và trung tâm đào tạo kỹ năng nghề quốc gia, vùng; đưa doanh nghiệp tham gia thực chất vào chương trình, thực hành, đánh giá và tuyển dụng.
Triển khai có hiệu quả mô hình trung học nghề, mô hình đào tạo kép, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Triển khai nền tảng quản trị nhân lực, kỹ năng và việc làm quốc gia, gắn kết chặt chẽ đào tạo với thị trường lao động.
Sáu là, hiện đại hóa giáo dục đại học, phát triển nhân lực trình độ cao. Kiểm soát tăng quy mô gắn với điều kiện bảo đảm chất lượng; ưu tiên STEM và công nghệ chiến lược gắn với chất lượng đầu vào, đội ngũ, phòng thí nghiệm và việc làm. Phát triển đào tạo sau đại học, đội ngũ tiến sĩ, nhóm nghiên cứu mạnh; chuyển đánh giá nghiên cứu từ số lượng công bố sang sáng chế, sản phẩm, chuyển giao và tác động thực tế.
Đẩy nhanh tái cấu trúc hệ thống cơ sở giáo dục đại học công lập, đầu tư 3-5 đại học tinh hoa; nghiên cứu phương án đầu tư phát triển một số hệ sinh thái, khu đô thị giáo dục đại học - khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số vùng động lực, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Chuyển dần từ đầu tư đơn lẻ sang đầu tư theo hệ sinh thái, có phân công sứ mạng và chia sẻ hạ tầng, hình thành các cực tăng trưởng dựa trên tri thức.
Bảy là, nâng cao hiệu quả hợp tác và hội nhập quốc tế. Chuyển từ số lượng thỏa thuận sang sản phẩm, kết quả cụ thể; ưu tiên hợp tác trong STEM, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu mới; tăng cường thu hút đại học uy tín, giảng viên, chuyên gia, nhà khoa học quốc tế.