Doanh nghiệp

Đừng để doanh nghiệp thành “chuyên gia thủ tục” mới tiếp cận được chính sách

Trang Nhung thực hiện 24/08/2026 09:58

Việt Nam hiện có không ít chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ và start-up, từ ưu đãi thuế, quỹ khoa học công nghệ đến các cơ chế thí điểm theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW. Vấn đề nằm ở khoảng cách giữa “được hưởng theo quy định” và “tiếp cận được trên thực tế” - nơi không ít doanh nghiệp vẫn phải mất thời gian, nguồn lực để tìm hiểu, hoàn thiện thủ tục và chứng minh đủ điều kiện thụ hưởng.

Đâu là nguyên nhân của khoảng cách này và Quốc hội có thể đổi mới hoạt động giám sát thế nào để chính sách thực sự đến đúng đối tượng thụ hưởng? Từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, ĐBQH TP. Đà Nẵng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty HTV Blockchain Trần Mạnh Huy đã trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân về vấn đề này.

1787280469356_2494530883054385649_2494530883054385649_4815dae8eeecee73cec98bd72d2796dc.jpg
ĐBQH TP. Đà Nẵng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty HTV Blockchain Trần Mạnh Huy

Gỡ rào cản để chính sách tiếp cận doanh nghiệp

- Thưa đại biểu, thực tế hiện nay có không ít chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ và start-up, nhưng khoảng cách từ chính sách đến thực thi vẫn còn khá lớn. Đại biểu đánh giá thế nào về nguyên nhân của tình trạng này?

ĐBQH Trần Mạnh Huy: Theo tôi, vấn đề hiện nay không hẳn là thiếu chính sách. Cái khó nằm ở chỗ vẫn còn một khoảng cách đáng kể giữa “được hưởng theo quy định” và “thực sự tiếp cận được trong thực tế”.

Start-up có một vòng đời rất khác với doanh nghiệp truyền thống. Họ phải nghiên cứu, thử nghiệm, có thể thất bại, điều chỉnh rồi mới tiến tới thương mại hóa. Trong khi đó, nhiều cơ chế quản lý vẫn được thiết kế theo hướng phải xác định khá rõ đầu ra, quy trình và tính chắc chắn ngay từ đầu. Chỉ riêng một doanh nghiệp công nghệ cũng có thể đồng thời phải đi qua các quy định về khoa học - công nghệ, đầu tư, thuế, hải quan, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, thậm chí cả mua sắm công. Chỉ cần một mắt xích chưa đồng bộ là cả quá trình có thể bị chậm lại.

Một vấn đề nữa là tâm lý e ngại rủi ro trong khâu thực thi. Đổi mới sáng tạo vốn không thể bảo đảm thành công 100%. Nếu chúng ta vẫn áp dụng tư duy quản lý đòi hỏi mọi thứ phải chắc chắn ngay từ đầu thì rất khó tạo không gian cho thử nghiệm. Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra tinh thần rất rõ là phải chấp nhận rủi ro, độ trễ và tạo cơ chế thử nghiệm cho công nghệ, mô hình mới. Điều quan trọng là tinh thần đó phải đi được xuống từng quy trình cụ thể.

Tôi cũng cho rằng chúng ta còn thiếu dữ liệu để trả lời một câu hỏi rất đơn giản: Doanh nghiệp thực sự nhận được gì từ chính sách? Báo cáo có thể cho biết đã ban hành bao nhiêu văn bản, tổ chức bao nhiêu chương trình, nhưng doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến việc một hồ sơ phải chờ bao lâu, qua bao nhiêu khâu, tỷ lệ được chấp thuận là bao nhiêu, vướng ở đâu và cuối cùng họ tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, chi phí. Một chính sách chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp không phải trở thành “chuyên gia thủ tục” mới có thể tiếp cận được chính sách đó.

Phát huy vai trò “cảm biến” chính sách của doanh nghiệp

- Có thể thiết lập một kênh để start-up, doanh nghiệp công nghệ trực tiếp phản ánh những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách với ĐBQH, qua đó trở thành một kênh phản biện và giám sát chính sách thường xuyên không, thưa đại biểu?

ĐBQH Trần Mạnh Huy: Theo tôi, hoàn toàn có thể và rất nên làm. Nhưng nếu chỉ tạo thêm một “hộp thư góp ý” thì chưa đủ.

Điều cần thiết hơn là một kênh dữ liệu về thực thi chính sách. Khi doanh nghiệp phản ánh một vướng mắc, thông tin cần được cấu trúc rõ: vướng ở chính sách nào, thủ tục nào, cơ quan nào xử lý, thời gian thực tế bao lâu, kết quả ra sao. Khi nhiều phản ánh tương tự được tập hợp và phân tích, ĐBQH, Đoàn ĐBQH và các cơ quan của Quốc hội sẽ nhìn thấy những điểm nghẽn đang lặp lại trong hệ thống.

Tôi cho rằng đây là điểm rất quan trọng. Một doanh nghiệp gặp khó có thể chỉ là một trường hợp riêng lẻ. Nhưng nếu 20, 50 hay 100 doanh nghiệp cùng vướng ở một thủ tục thì đó không còn là câu chuyện của từng doanh nghiệp nữa. Đó là dữ liệu cho thấy chính sách hoặc cách tổ chức thực hiện đang có vấn đề.

Kênh này cũng cần có cơ chế phản hồi để doanh nghiệp biết kiến nghị của mình đang được xử lý đến đâu; đồng thời phải bảo đảm bảo mật những thông tin kinh doanh cần thiết. Các phản ánh sau khi được tổng hợp có thể trở thành nguồn dữ liệu rất hữu ích cho hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề, kiến nghị sửa đổi văn bản hoặc hoàn thiện chính sách.

Theo tôi, hoàn toàn có thể thí điểm trước với cộng đồng start-up và doanh nghiệp công nghệ. Đây là nhóm thay đổi rất nhanh, thường xuyên thử nghiệm mô hình mới và cũng là nơi các khoảng trống của thể chế bộc lộ sớm nhất. Nếu làm được như vậy, doanh nghiệp sẽ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách. Họ còn có thể trở thành những “cảm biến” giúp Quốc hội nhận biết sớm chính sách đang vận hành tốt ở đâu và đang tắc ở đâu trong thực tế.

Giám sát đến cùng, chính sách mới đi vào thực tiễn

- Đại biểu nhắc đến việc xây dựng một kênh dữ liệu tổng hợp phản ánh từ doanh nghiệp. Vậy Quốc hội và ĐBQH nên sử dụng nguồn dữ liệu đó thế nào trong hoạt động giám sát, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống và đến được đúng đối tượng thụ hưởng, thưa ông?

ĐBQH Trần Mạnh Huy: Theo tôi, cần thay đổi cách nhìn về giám sát. Không chỉ xem cơ quan quản lý đã ban hành văn bản gì, đã triển khai chương trình nào, mà cần đi sâu vào “hành trình của người thụ hưởng”.

Chẳng hạn, một start-up cần nhập một thiết bị hoặc linh kiện phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm. Thay vì chỉ xem quy định đã đầy đủ chưa, hoàn toàn có thể chọn một số hồ sơ thực tế và đi theo toàn bộ quá trình đó: doanh nghiệp phải chuẩn bị những gì, qua bao nhiêu cơ quan, mất bao nhiêu ngày, phát sinh chi phí gì, có khâu nào mỗi nơi hiểu một cách khác nhau hay không, và cuối cùng ưu đãi mà chính sách quy định có thực sự đến được doanh nghiệp không.

Khi đó, hoạt động giám sát sẽ có những thước đo rất cụ thể: thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ được chấp thuận, lý do từ chối, số doanh nghiệp thực tế được hưởng chính sách, giá trị hỗ trợ đã đi đến đâu, và đặc biệt là những thủ tục phải làm đi làm lại nhưng không tạo thêm giá trị quản lý.

anh-man-hinh-2025-11-18-luc-101204png-1763435534115.webp
Doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính – một trong những “hành trình” cần được giám sát sát sao hơn

Tôi cho rằng sau giám sát cũng phải xác định rõ “địa chỉ trách nhiệm”. Nếu vướng từ luật thì Quốc hội xem xét; nếu nằm ở nghị định, thông tư thì kiến nghị Chính phủ, bộ, ngành xử lý; nếu vấn đề nằm ở cách tổ chức thực hiện thì phải chỉ rõ cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn khắc phục. Có như vậy, giám sát mới tạo ra thay đổi thực chất.

Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW đều hướng tới tháo gỡ rào cản, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đối với doanh nghiệp. Theo tôi, đây cũng phải là tiêu chí để đánh giá kết quả giám sát. Giám sát tốt không phải để chứng minh chính sách đã được triển khai, mà để trả lời được câu hỏi: người cần được hưởng chính sách đã thực sự nhận được nó hay chưa.

- Bên cạnh việc xác định đúng "địa chỉ trách nhiệm", hoạt động giám sát của Quốc hội và ĐBQH cần đổi mới thế nào để không chỉ dừng ở việc phát hiện, kiến nghị xử lý những bất cập của chính sách, mà còn theo dõi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị và kết quả hỗ trợ doanh nghiệp, thưa ông?

ĐBQH Trần Mạnh Huy: Theo tôi, điều cần thay đổi trước hết là cách chúng ta nhìn về giám sát: không chỉ giám sát tại một thời điểm, mà phải theo dõi cả quá trình từ kiến nghị đến kết quả cuối cùng.

Sau mỗi cuộc giám sát, chúng ta thường có báo cáo, kết luận và kiến nghị với các cơ quan liên quan. Nhưng từ góc độ doanh nghiệp, điều họ quan tâm nhất lại là phần việc sau đó: kiến nghị đã được xử lý đến đâu, thủ tục có thực sự đơn giản hơn không, thời gian giải quyết có rút ngắn không, và doanh nghiệp có tiếp cận chính sách thuận lợi hơn trước hay chưa.

Vì vậy, tôi cho rằng mỗi kiến nghị giám sát cần gắn với ba yếu tố rất cụ thể: ai chịu trách nhiệm, khi nào phải hoàn thành và kết quả được đo bằng gì. Sau một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn 3 tháng hoặc 6 tháng tùy từng vấn đề, cần quay lại kiểm tra kết quả thực hiện. Nếu một kiến nghị quan trọng kéo dài mà chưa được xử lý thì cơ quan có trách nhiệm phải giải trình rõ nguyên nhân.

Một điểm nữa là cần tăng cường giám sát bằng dữ liệu. Không nên chỉ dừng ở câu hỏi “quy định đã được sửa chưa”, mà cần đi tiếp một bước: sau khi sửa thì thời gian xử lý hồ sơ giảm được bao nhiêu, số doanh nghiệp tiếp cận chính sách có tăng không, chi phí tuân thủ có giảm thực chất hay không.

Điều này càng cần thiết với lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo, bởi thực tiễn thay đổi rất nhanh. Nếu chỉ chờ đến các đợt giám sát định kỳ thì nhiều vấn đề có thể đã phát sinh từ khá lâu. Vì vậy, bên cạnh giám sát chuyên đề, cần có cơ chế theo dõi thường xuyên hơn, dựa trên dữ liệu và phản ánh trực tiếp từ cộng đồng doanh nghiệp. Theo tôi, một kiến nghị giám sát chưa thể coi là hoàn thành chỉ vì đã có văn bản trả lời. Nó chỉ thực sự hoàn thành khi vấn đề của người dân và doanh nghiệp đã được tháo gỡ trong thực tế.

Để doanh nghiệp tham gia vào vòng đời chính sách

- Về lâu dài, đại biểu đề xuất gì để doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là các start-up, có thể dễ dàng tiếp cận và phản hồi về chính sách, qua đó giúp cơ quan xây dựng và thực thi chính sách kịp thời điều chỉnh những điểm chưa phù hợp với thực tiễn?

ĐBQH Trần Mạnh Huy: Về lâu dài, theo tôi cần hình thành một cơ chế tương tác chính sách hai chiều, thường xuyên và thuận tiện hơn.

Trước hết, doanh nghiệp phải dễ dàng biết được mình có thể tiếp cận chính sách nào, điều kiện ra sao, cần làm thủ tục ở đâu và cơ quan nào chịu trách nhiệm. Hiện nay, các chính sách dành cho doanh nghiệp công nghệ và start-up nằm rải rác trong nhiều luật, nghị định, thông tư và chương trình hỗ trợ khác nhau. Với một start-up quy mô nhỏ, chỉ riêng việc tìm hiểu để biết mình có thuộc diện được hỗ trợ hay không đã tốn không ít thời gian và nguồn lực.

Theo tôi, có thể hướng tới một đầu mối số thống nhất. Doanh nghiệp chỉ cần cung cấp những thông tin cơ bản về lĩnh vực hoạt động, quy mô, giai đoạn phát triển hay nhu cầu hỗ trợ; từ đó hệ thống có thể gợi ý những chính sách phù hợp, hồ sơ cần chuẩn bị, cơ quan tiếp nhận và tiến độ xử lý. Nói cách khác, thay vì để doanh nghiệp tự đi tìm từng chính sách, chúng ta nên từng bước chuyển sang cách làm “chính sách tìm đúng doanh nghiệp”.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần một kênh đủ thuận tiện để phản ánh những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Nhưng phản ánh không nên chỉ dừng ở một ý kiến chung chung. Cần ghi nhận được những thông tin cụ thể: vướng ở quy định nào, thủ tục nào, cơ quan nào xử lý, thời gian thực tế bao lâu, chi phí phát sinh thế nào. Khi những dữ liệu này được tập hợp đủ lớn, cơ quan xây dựng chính sách có thể nhìn thấy rất sớm những điểm đang gây ách tắc.

1759803817761.jpg
Chính sách tốt không đến từ một phía, mà từ đối thoại thường xuyên giữa Nhà nước và doanh nghiệp

Tôi cũng cho rằng cần tăng cường tham vấn cộng đồng start-up, doanh nghiệp công nghệ, các hiệp hội và chuyên gia ngay từ khi thiết kế chính sách. Không nên chờ đến khi chính sách đã ban hành, doanh nghiệp gặp khó rồi mới tìm cách tháo gỡ. Với những lĩnh vực công nghệ mới, sandbox hoặc các chương trình thí điểm là một cách tốt để kiểm chứng chính sách trong thực tế trước khi áp dụng rộng.

Quan trọng hơn, tư duy xây dựng chính sách cũng cần thay đổi. Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng chịu tác động của chính sách, mà còn là một nguồn thông tin rất quan trọng để chính sách được hoàn thiện tốt hơn. Nếu tạo được một vòng phản hồi đủ nhanh giữa Nhà nước và doanh nghiệp, chúng ta sẽ có một cơ chế linh hoạt hơn: ban hành - thực thi - đo lường - phản hồi - điều chỉnh. Khi đó, những bất cập có thể được phát hiện và xử lý sớm, thay vì phải chờ nhiều năm mới nhận ra rằng một quy định đã không còn theo kịp thực tiễn.

- Trân trọng cảm ơn đại biểu đã trả lời phỏng vấn!

Trang Nhung thực hiện