Thời sự Quốc hội

Định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai: Thu hồi đất phải gắn với tái thiết cuộc sống

Đan Thanh; Ảnh: Thủy Nguyên 21/08/2026 10:14

Cùng với việc xác định rõ trường hợp thu hồi đất, đại biểu lưu ý cần đặc biệt quan tâm bảo đảm đời sống, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất. Đây cần là nguyên tắc xuyên suốt trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng nay, 21/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

chi_7912(1).jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận

Tại phiên thảo luận, các đại biểu cơ bản thống nhất và đánh giá cao tinh thần khẩn trương, trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan liên quan trong việc nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

Việc sửa đổi Luật lần này là nhiệm vụ chính trị quan trọng, nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Thu hồi đất không chỉ là “lấy đủ đất” cho dự án

Liên quan thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm sinh kế cho người có đất bị thu hồi, ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên) cho rằng đây là nội dung đã được Tổng Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt. Nghị quyết số 21-NQ/TW thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”, bảo đảm cải thiện nơi ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất bị thu hồi.

Nguyễn Đại Thắng - Hưng Yên
ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên) phát biểu

Đại biểu cơ bản đồng tình với Điều 35 dự thảo Luật về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, cho rằng việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất sẽ bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau.

Tuy nhiên, cùng với việc xác định rõ trường hợp thu hồi đất, đại biểu lưu ý cần đặc biệt quan tâm bảo đảm đời sống, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất. Đây cần là nguyên tắc xuyên suốt trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Với Điều 42 về thứ tự ưu tiên bồi thường về đất, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề nghị tiếp tục hoàn thiện theo hướng cụ thể hóa yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Cần làm rõ thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở, đất ở tái định cư.

Theo đại biểu, bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất; đồng thời cần có tiêu chí cụ thể đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

“Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với việc tiếp tục sản xuất và yêu cầu chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người bị thu hồi đất được bồi thường về tài sản nhưng sau đó gặp khó khăn trong ổn định cuộc sống”, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề xuất.

Lê Văn Thế - Ninh Bình
ĐBQH Lê Văn Thế (Ninh Bình) phát biểu

ĐBQH Lê Văn Thế (Ninh Bình) bổ sung, thu hồi đất cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển.

Theo đại biểu, khi Nhà nước đầu tư tuyến đường hoặc công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ diện tích cho công trình. Nếu chỉ thu hồi phần đất trong ranh giới dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể còn những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận; đất sản xuất bị chia cắt hoặc không còn hiệu quả canh tác.

Vì vậy, giải phóng mặt bằng không chỉ là lấy đủ đất cho công trình, mà phải tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian sau dự án.

Đối với khoản 6 Điều 42 quy định trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, đại biểu đặt vấn đề: “Vậy nếu người dân không có nhu cầu, hoặc người có, người không thì sao?”.

Đặt vấn đề như vậy, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng, nếu chỉ xử lý theo nhu cầu của từng hộ thì bài toán không gian của cả dự án vẫn có thể bị bỏ ngỏ. Do đó, dự thảo Luật cần bổ sung tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

kim_2866(1).jpg
Toàn cảnh phiên thảo luận

“Nếu phần đất vẫn có thể tiếp tục sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Nhưng nếu thu hồi để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải có căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp quy hoạch, có dự án, phạm vi và phương án rõ ràng; không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể”, đại biểu Lê Văn Thế nêu.

Dữ liệu đất đai phải truy được trách nhiệm

Về thiết kế pháp lý của hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) đề nghị cần làm rõ mối quan hệ giữa Luật Đất đai và Luật Dữ liệu. Theo đại biểu, Điều 4 dự thảo Luật quy định hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về đất đai được ưu tiên áp dụng theo Luật Đất đai, trong khi Luật Dữ liệu yêu cầu luật ban hành sau có quy định khác phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo Luật Dữ liệu.

Hoàng Minh Hiếu - Nghệ An
ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) phát biểu

Qua rà soát, dự thảo Luật chưa quy định rõ nội dung này. Do đó, đại biểu đề nghị xác định rõ những nội dung đặc thù về dữ liệu đất đai do Luật Đất đai điều chỉnh; còn việc quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu thực hiện theo pháp luật chung về dữ liệu, giao dịch điện tử và chuyển đổi số, trừ trường hợp đặc thù.

Cũng theo đại biểu Hoàng Minh Hiếu, dự thảo Luật mới liệt kê các cơ sở dữ liệu thành phần nhưng chưa xác định dữ liệu nào là dữ liệu chủ theo yêu cầu của pháp luật về giao dịch điện tử. Vì vậy, cần xác định cụ thể các dữ liệu chủ như ranh giới không gian, loại và mục đích sử dụng đất, tình trạng pháp lý của thửa đất..., nhằm hạn chế sai lệch, không thống nhất dữ liệu giữa các lĩnh vực thuế, đất đai, xây dựng, bất động sản và dân cư. Đồng thời, cần quy định rõ quyền của người sử dụng đất đối với dữ liệu của mình.

Đồng tình với định hướng xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thống nhất, dùng chung, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng dữ liệu đất đai không chỉ gồm tọa độ thửa đất hay bản số hóa Giấy chứng nhận mà còn bao gồm thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, biến động quyền sử dụng đất và nhiều lớp dữ liệu quản lý khác.

“Những thay đổi về người sử dụng đất, ranh giới, mục đích sử dụng, giá đất, đặc biệt là thông tin quy hoạch, đều có thể tác động trực tiếp đến quyền và giá trị tài sản của tổ chức, người dân, doanh nghiệp”.

Vì vậy, theo đại biểu, vấn đề không chỉ là dữ liệu ban đầu có chính xác hay không mà trong suốt quá trình tồn tại của dữ liệu, mỗi lần thay đổi đều phải có căn cứ và truy được trách nhiệm.

chi_7989(1).jpg
Các đại biểu tham gia phiên thảo luận tại hội trường

Cùng với đó, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị bổ sung tại Điều 79 dự thảo Luật nguyên tắc: việc tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa, phê duyệt và khai thác dữ liệu đất đai phải xác định được chủ thể thực hiện; mọi thao tác làm thay đổi dữ liệu phải được ghi nhận, lưu giữ lịch sử để phục vụ kiểm tra, giám sát, truy vết và xác định trách nhiệm. Đối với dữ liệu có nhiều lần thay đổi, phải quản lý được lịch sử và phiên bản dữ liệu tương ứng.

Đồng thời, dữ liệu đất đai phải được bảo vệ trước nguy cơ truy cập, can thiệp hoặc sửa đổi trái phép; hệ thống phải có khả năng phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và truy vết các hành vi xâm nhập, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin.

Đại biểu Lê Văn Thế nhấn mạnh: các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể giao Chính phủ quy định, nhưng cần xác lập ngay trong dự thảo Luật hai nguyên tắc cơ bản nói trên.

Đan Thanh; Ảnh: Thủy Nguyên