Không để chính sách bị phân tán khi tích hợp chương trình mục tiêu quốc gia
Thảo luận tại Tổ 1 (Hà Nội), các ĐBQH đề nghị việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia phải thực chất, không cộng cơ học, không chồng chéo; đồng thời bảo đảm nguồn lực, tăng tính chủ động của địa phương và đánh giá hiệu quả bằng kết quả đầu ra.
Bảo đảm đồng bộ, hiệu quả của các chính sách
Phát biểu thảo luận tại Tổ 1 (Hà Nội), ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà cho biết, đối chiếu dự thảo Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (Dự thảo lần 5) với các quy định đặc thù tại Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, đại biểu đã đề xuất 3 ý kiến nhằm tối ưu hóa tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả của các chính sách trong dự thảo Nghị quyết lần này.
Về chính sách đồng bộ hóa cơ chế lồng ghép nguồn lực và phân cấp đầu tư theo mô hình liên kết vùng Thủ đô, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà đánh giá dự thảo Nghị quyết tuy đã quy định nguyên tắc lồng ghép nguồn vốn giữa các chương trình, dự án khác trên cùng địa bàn và phân cấp mạnh mẽ cho địa phương chủ động lựa chọn danh mục, phân bổ chi tiết, nhưng tầm nhìn lồng ghép này vẫn đang bị giới hạn độc lập theo ranh giới địa giới hành chính của từng tỉnh, thành phố riêng biệt, nhất là với Vùng Thủ đô.
.jpg)
Theo phân tích của đại biểu, quy định tại Luật Thủ đô thì Hà Nội đóng vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng và là trung tâm kết nối phát triển của Vùng Thủ đô cùng các vùng phụ cận. Điểm b khoản 3 Điều 29 Luật Thủ đô cho phép các địa phương trong Vùng Thủ đô được sử dụng ngân sách địa phương để đầu tư trực tiếp vào các dự án liên kết vùng trên địa bàn của địa phương khác nhằm giải quyết các vấn đề dùng chung như hạ tầng giao thông, môi trường, nguồn nước. Đồng thời, Luật cũng thành lập Quỹ Phát triển vùng Thủ đô để thu hút nguồn ngân sách trung ương, địa phương và các nguồn lực xã hội hóa.
Do đó, để tránh sự chia cắt manh mún nguồn lực khi thực hiện CTMTQG đa mục tiêu, đại biểu đề nghị bổ sung một quy định mở tại khoản 10 Điều 1 (Cơ chế đặc thù) hoặc Điều 2 (Nguyên tắc lồng ghép) của dự thảo Nghị quyết theo hướng cho phép các địa phương thuộc Vùng Thủ đô và các vùng liên kết được lồng ghép nguồn vốn ngân sách trung ương và địa phương của CTMTQG này vào các dự án liên kết vùng hoặc Quỹ Phát triển vùng. Qua đó, để cùng đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu dùng chung, xử lý ô nhiễm môi trường liên tỉnh (như lưu vực sông) hoặc phát triển các chuỗi giá trị sản xuất - dịch vụ nông thôn liên tỉnh thay vì phân bổ cơ học, dàn trải cho từng địa phương.
Về chính sách thúc đẩy cơ chế hợp tác công - tư (PPP) và xã hội hóa trong quản lý, vận hành các thiết chế văn hóa, công nghiệp văn hóa, tại điểm b khoản 10 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết quy định cơ chế đặc thù cho phép HĐND cấp tỉnh quyết định hỗ trợ tài chính một chiều từ ngân sách địa phương cho các dự án phát triển công nghiệp văn hóa hoặc các dự án bảo tồn di sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng. Tuy nhiên, cơ chế này chưa có sự đột phá về thu hút nguồn lực tư nhân tham gia vận hành sau đầu tư. Đồng thời, trong báo cáo thẩm tra số 437 của Hội đồng Dân tộc cũng chỉ rõ áp lực lớn về chi thường xuyên để duy tu, vận hành các thiết chế văn hóa, thể thao sau đầu tư, đồng thời đề nghị phải hạn chế tối đa chi thường xuyên để tập trung vốn cho đầu tư phát triển...
.jpg)
Do đó, nhằm cắt giảm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho việc bảo trì, vận hành các nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng hay không gian sáng tạo được đầu tư từ CTMTQG, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà đề nghị bổ sung vào dự thảo Nghị quyết cơ chế đặc thù (hoặc cho phép thí điểm áp dụng cơ chế đặc thù tương tự Luật Thủ đô trên phạm vi toàn quốc) theo hướng, cho phép các địa phương thực hiện xã hội hóa bằng cách chuyển nhượng quyền khai thác có thời hạn hoặc cho thuê quyền khai thác các thiết chế văn hóa, thể thao công cộng được xây dựng từ nguồn vốn của Chương trình cho các doanh nghiệp, hợp tác xã có năng lực quản trị.
"Cơ chế này vừa tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài sản công, vừa bảo đảm các thiết chế hoạt động thực chất, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân", ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà nhấn mạnh.
Về chính sách linh hoạt hóa định mức chi hỗ trợ an sinh xã hội, y tế, giáo dục gắn với quyền tự quyết định mức chi cao hơn của chính quyền đô thị đặc biệt, để bảo đảm tính thống nhất nhưng không triệt tiêu các cơ chế đặc thù đã được Luật hóa của các đô thị lớn, nhất là với Thủ đô Hà Nội, do đó, đại biểu đề nghị dự thảo Nghị quyết cần bổ sung một điều khoản loại trừ hoặc làm rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 1 hoặc Điều 2.
Đẩy mạnh phân cấp, giảm đầu mối trung gian
Phát biểu thảo luận về chủ trương tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia, ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt đồng tình với việc đổi mới theo hướng không cộng cơ học, không giao thoa, chồng chéo, đồng thời đẩy mạnh phân cấp theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; giảm đầu mối trung gian, khắc phục cơ chế xin - cho và đánh giá hiệu quả bằng kết quả đầu ra.
Để chương trình mới nhanh chóng đi vào cuộc sống, đại biểu đề nghị rà soát, bổ sung các tiêu chí đang được thực hiện thí điểm, nhất là gắn xây dựng nông thôn mới với mô hình xây dựng xã xã hội chủ nghĩa; đồng thời cập nhật các quy định mới của Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công, Luật Thủ đô và Luật Phát triển đô thị. Việc tích hợp phải bảo đảm tính kế thừa, tránh trùng lặp, bỏ sót và khắc phục tình trạng chính sách phân tán.
.jpg)
Từ thực tiễn Hà Nội, ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt lưu ý cần tăng cường quản lý quy hoạch, xây dựng tại khu vực nông thôn. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, nếu tiếp tục quan niệm nông thôn không cần quy hoạch, cấp phép chặt chẽ sẽ phát sinh hệ lụy về kiến trúc, giao thông, môi trường. Vì vậy, các xã cũng phải được quản lý phù hợp với định hướng phát triển chung của Thủ đô.
Đại biểu cũng đề nghị chuyển mạnh từ tư duy phân bổ theo nhu cầu đăng ký sang đánh giá hiệu quả đầu tư. Qua thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, một số dự án còn hiệu quả thấp, thậm chí dẫn tới bê tông hóa cảnh quan nông thôn. Do đó, cần đánh giá thực chất hiệu quả sử dụng nguồn lực, không chỉ dựa vào việc giải ngân hay hoàn thành công trình.
Về khám sức khỏe toàn dân, đại biểu cho rằng đây là chủ trương đúng nhưng cần tránh triển khai theo phong trào. Việc tổ chức các gói khám sức khỏe 300 - 400 nghìn đồng/người cần được quy định rõ về tiêu chuẩn, định mức và nội dung chuyên môn, bảo đảm nguồn lực thực sự phục vụ phát hiện, quản lý và chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
Về nguồn vốn, ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt nhất trí không áp dụng cơ học tỷ lệ 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên, nhưng đề nghị nghị quyết của Quốc hội quy định rõ tổng mức, cơ cấu vốn; đồng thời đánh giá khả năng đối ứng của các địa phương khó khăn về nguồn lực và có giải pháp xử lý dứt điểm số vốn kéo dài từ giai đoạn 2021 - 2025.
Theo đại biểu, tích hợp chương trình phải thực sự tạo ra phương thức quản lý mới, khơi thông nguồn lực, giảm cơ chế xin - cho và nâng cao hiệu quả đầu tư, qua đó bảo đảm chính sách đi vào cuộc sống thực chất, bền vững.
Quan tâm tới cơ chế kiểm soát trong quá trình tích hợp
Phát biểu thảo luận tổ, ĐBQH Huỳnh Quyết Thắng đồng tình, đánh giá cao việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ hơn một số vấn đề về mục tiêu, mức độ ưu tiên, cơ cấu nguồn lực và cơ chế kiểm soát trong quá trình tích hợp. Theo đại biểu, Tờ trình khẳng định mục tiêu, chỉ tiêu, phạm vi, đối tượng, tổng nguồn lực và cơ chế đặc thù được “hợp nhất từ nội dung quy định của 4 Chương trình”, thể hiện chủ trương kế thừa. Tuy nhiên, chính Tờ trình cũng nhận diện nguy cơ giảm mức độ ưu tiên đối với các mục tiêu, nhiệm vụ đặc thù nếu không xác định rõ mục tiêu, tiêu chí đánh giá kết quả khi tích hợp.
.jpg)
Đáng lưu ý, các nhiệm vụ liên quan đến bình đẳng giới, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật có nguy cơ không được bố trí nguồn lực tương xứng. Giải pháp được đưa ra là quy định “yêu cầu tối thiểu” cho các nhóm này. Tuy nhiên, đối chiếu với dự kiến Nghị quyết Chính phủ, mức sàn định lượng cụ thể hiện mới xuất hiện ở phạm vi hẹp, như tối thiểu 70% kinh phí dự án hỗ trợ sản xuất phải hỗ trợ trực tiếp cho người dân, áp dụng đối với nhóm nhiệm vụ 2; cùng các tỷ lệ vốn đối ứng tối thiểu theo địa phương, điểm năng lực tại Phụ lục I.
Trong khi đó, đại biểu cho rằng vẫn chưa có mức sàn nguồn lực tối thiểu cho từng nhóm đối tượng yếu thế xuyên suốt cả 7 nhóm nhiệm vụ. Vì vậy, cần có cơ chế bảo đảm để các nhóm đối tượng này tiếp tục nhận được sự ưu tiên phù hợp sau khi các chương trình được tích hợp.
Về cơ chế kiểm soát, đại biểu ghi nhận đã có quy định về việc mở rộng cơ chế đặc thù từ nhóm nhiệm vụ này sang nhóm, lĩnh vực khác; trường hợp vượt thẩm quyền Chính phủ thì phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Mức trần 20% tổng vốn đầu tư công cho khối bộ, cơ quan Trung ương cũng đã được giải trình rõ căn cứ.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng chưa có cơ chế báo cáo định kỳ hằng năm với Quốc hội về việc mức ưu tiên, nguồn lực cho từng nhóm đối tượng có được duy trì đúng cam kết hay không. Hiện mới có mốc báo cáo giữa kỳ vào đầu năm 2030 và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại kỳ họp gần nhất sau khi ban hành nghị quyết của Chính phủ.
Bên cạnh đó, đại biểu lưu ý nguy cơ nguồn lực bị thiên lệch sang những dự án hạ tầng “dễ giải ngân”. Hiện cơ chế bảo vệ mới được thiết kế khá hẹp, trong đó chỉ nhóm nhiệm vụ 2 về phát triển sản xuất có sàn cứng tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ trực tiếp người dân. Các nhóm y tế, giáo dục, văn hóa, dữ liệu chưa có sàn tương ứng. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung tiêu chí hoặc mức sàn nguồn lực phù hợp hơn.
Riêng đối với nhóm nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, ĐBQH Huỳnh Quyết Thắng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm công bằng giáo dục giữa các vùng, nhóm dân cư và nhóm yếu thế, theo nguyên tắc nơi nào khó khăn hơn thì được hỗ trợ nhiều hơn, giáo viên công tác ở vùng khó khăn được đãi ngộ tốt hơn. Trong khi nhóm nhiệm vụ 2 đã có sàn cứng tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ trực tiếp người dân, nhóm giáo dục - đào tạo chưa có sàn nguồn lực hoặc bộ chỉ số công bằng tương ứng.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cân nhắc đưa “bộ chỉ số công bằng giáo dục theo vùng/nhóm yếu thế” thành nội dung ràng buộc trong Nghị quyết Chính phủ đối với riêng nhóm nhiệm vụ 3, thay vì chỉ dừng ở Bộ tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra chung tại Phụ lục V.
Đánh giá Mục V của Tờ trình, đại biểu cho rằng nội dung đã trình bày tương đối đầy đủ về mặt định tính với 6 tác động tích cực, 6 rủi ro và 6 nhóm giải pháp giảm thiểu. Tuy nhiên, chưa có nội dung được lượng hóa bằng số liệu; chưa ước tính chi phí chuyển đổi, mức chênh lệch thụ hưởng dự kiến cũng như xác suất, mức độ nghiêm trọng của từng rủi ro. Đại biểu cho rằng Bộ tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra tại khoản 8 dự thảo Nghị quyết Quốc hội và Phụ lục V của dự kiến Nghị quyết Chính phủ đã được thiết kế khá kỹ, nhưng chủ yếu đo kết quả thực hiện mục tiêu của Chương trình, chưa phải là các chỉ số cảnh báo sớm đối với những rủi ro trong quá trình chuyển đổi.