Thiết lập cơ chế giám sát và kiểm soát rủi ro hiệu quả
Cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị quy định chặt chẽ phạm vi, điều kiện, thời hạn áp dụng các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác với mức chung, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro hiệu quả.
Hoàn thiện cơ chế tài chính, kiểm soát tỷ lệ an toàn
Theo Báo cáo của Chính phủ, qua nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, dự thảo Luật bổ sung nội dung giao Chính phủ quy định cơ chế trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà nước tại khoản 6 Điều 1.
Đồng thời, tách nội dung quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 59 thành một khoản riêng tại Điều 59 của Luật Ngân hàng Nhà nước và chỉnh lý kỹ thuật điểm g, khoản 2 Điều 59 của Luật hiện hành, bảo đảm thống nhất trong quy định áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác với Luật Các tổ chức tín dụng.

Ghi nhận những chỉnh lý, sửa đổi này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu, khi quy định cho phép áp dụng một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn khác so với mức quy định chung thì phải xây dựng hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định các trường hợp phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
“Yêu cầu đặt ra là phải giới hạn rõ phạm vi, điều kiện và thời hạn áp dụng, xác định lộ trình cụ thể để đưa các tỷ lệ an toàn về lại ngưỡng quy định, tránh bị lạm dụng. Quan trọng là phải thiết lập được cơ chế giám sát và kiểm soát rủi ro hiệu quả”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Đối với các quy định về phòng, chống rửa tiền, theo báo cáo của Chính phủ, các quy định được thiết kế theo hướng cho phép đối tượng báo cáo khai thác các dữ liệu chuyên ngành, không yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu. Các biện pháp phải thực hiện tương ứng với mức độ rủi ro rửa tiền, cơ bản không tạo thêm trách nhiệm vượt quá khả năng thực hiện của đối tượng báo cáo.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị, khi luật hóa các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền thì phải đi kèm hướng dẫn cụ thể, định lượng về tiêu chí, cách thức thu thập và sử dụng dữ liệu. Bởi, điều này sẽ giúp tránh phát sinh vướng mắc do cách hiểu không thống nhất hoặc tạo chi phí tuân thủ quá cao đối với doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng.
Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý, cần rà soát trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan và đối tượng báo cáo, bảo đảm đúng thẩm quyền, rõ trách nhiệm và có tính khả thi cao.
Ngăn chặn nguy cơ biến ngân hàng thành “giấy chứng nhận an toàn” cho trái phiếu
Để tạo cơ sở pháp lý cho ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động trên cơ sở pháp luật về chứng khoán, dự thảo Luật bổ sung tại khoản 2 Điều 114 của Luật Các tổ chức tín dụng quy định cho phép ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp.

Đối với việc bổ sung chức năng này cho ngân hàng thương mại, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của các bên, cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. Đồng thời, phải tuân thủ các nguyên tắc quản trị rủi ro, không biến hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm của ngân hàng thương mại thành “giấy chứng nhận an toàn” cho trái phiếu doanh nghiệp.
Đồng tình với việc cho phép ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục làm rõ ngay sau khi Luật có hiệu lực thi hành, điểm e khoản 2 Điều 114 của Luật Các tổ chức tín dụng đã đủ cơ sở pháp lý để thực hiện hay chưa.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, nội dung này thuộc pháp luật về chứng khoán, trong khi pháp luật về chứng khoán chưa có quy định cụ thể. Do đó, trường hợp cần hoàn thiện pháp luật về chứng khoán, cần cân nhắc quy định riêng về hiệu lực thi hành của điều này để bảo đảm tính khả thi.
Dự thảo Luật quy định: “Kết quả tài chính của Ngân hàng Nhà nước sau khi trích lập các quỹ tại khoản 1 điều này và bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu các năm trước (nếu có) được gộp vào ngân sách nhà nước”.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, điểm i khoản 1 Điều 36 của Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành và dự thảo Luật Ngân sách Nhà nước hợp nhất chỉ quy định chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sau khi trừ khoản dự phòng rủi ro và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật là khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%, nhưng không quy định về việc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu các năm trước khi trích lập các quỹ.
Do vậy, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát kỹ lưỡng quy định này, đồng thời theo sát quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước để chỉnh lý, bảo đảm thống nhất. Trường hợp giữ nguyên quy định trong dự thảo Luật thì cần giải trình rõ hơn.
Phục vụ mục tiêu phát triển nhưng sẽ vẫn bảo đảm an toàn tốt nhất
Giải trình, làm rõ thêm các nội dung tại phiên họp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn cho biết, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã trao đổi, thảo luận kỹ lưỡng về các vấn đề được Chủ tịch Quốc hội, Thường trực các Ủy ban và đại biểu Quốc hội nêu.
Về cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Phạm Đức Ấn nêu rõ, khi chênh lệch thu - chi có phần thừa thì nộp ngân sách, nhưng khi có chênh lệch thiếu thì bắt buộc phải có cơ chế xử lý. Thống đốc cũng đồng tình với việc cập nhật nội dung này trong quá trình xây dựng Luật Ngân sách Nhà nước hợp nhất để bảo đảm tính thống nhất pháp lý; Chính phủ sẽ ban hành Nghị định quy định chi tiết về vấn đề này.

Về áp dụng các tỷ lệ an toàn linh hoạt, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giải thích, dự thảo Luật quy định căn cứ vào tính chất, mức độ rủi ro của từng đối tượng để xem xét, quyết định áp dụng tỷ lệ an toàn khác với quy định hiện hành.
Ví dụ, Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn khoảng 40% đối với cả hệ thống. Tuy nhiên, với một số tổ chức tín dụng có điều kiện phù hợp, có thể nâng lên 50%. Nếu áp dụng mức 50% cho toàn hệ thống thì sẽ tạo rủi ro, nhưng áp dụng cho một số đối tượng phù hợp lại có thể bảo đảm kiểm soát được rủi ro.
Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, việc áp dụng linh hoạt các tỷ lệ an toàn nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những điều kiện cần thiết, không phải nới lỏng theo hướng dẫn đến rủi ro mà phải phù hợp với từng ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng. “Về cơ bản, Ngân hàng Nhà nước cũng đi theo hướng làm thế nào an toàn nhất”, Thống đốc khẳng định.
Về quyền hạn đại lý tài sản bảo đảm, Thống đốc Phạm Đức Ấn khẳng định, dự thảo Luật chỉ xác định quyền được phép thực hiện thêm chức năng này, bởi pháp luật hiện hành đã giới hạn các tổ chức tín dụng chỉ được thực hiện những hoạt động được luật quy định.
Theo Thống đốc, cách thức thực hiện để bảo đảm minh bạch, tách bạch giữa hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm với các hoạt động liên quan của ngân hàng thương mại sẽ được Luật Chứng khoán điều chỉnh. Pháp luật về chứng khoán cũng sẽ quy định cách thức thực hiện để bảo đảm an toàn, tránh trường hợp hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm bị hiểu như một sự bảo đảm an toàn cho trái phiếu doanh nghiệp.
Thống đốc cũng nêu rõ, Luật Chứng khoán và pháp luật về chứng khoán sẽ có quy định tạo sự minh bạch và tách bạch trong các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ của ngân hàng thương mại và việc quản lý tài sản bảo đảm; qua đó, tránh xung đột lợi ích, không để khách hàng hiểu nhầm về việc mua trái phiếu và trách nhiệm của tổ chức tín dụng.