Phòng thí nghiệm dùng chung cho bán dẫn, AI
Phát triển phòng thí nghiệm dùng chung đang được đặt ra như một giải pháp giúp doanh nghiệp, startup, viện nghiên cứu và trường đại học tiếp cận hạ tầng công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý. Quan trọng hơn, mô hình này có thể tạo cầu nối từ nghiên cứu đến thị trường, góp phần nâng cao năng lực nội sinh và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung
Bài toán hạ tầng phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển sản phẩm là vấn đề được nhiều chuyên gia, doanh nghiệp đặt ra tại Diễn đàn “Đồng hành cùng Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển công nghiệp bán dẫn, AI và đổi mới sáng tạo”, do Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), Bộ Tài chính phối hợp với Tập đoàn Thermo Fisher Scientific tổ chức ngày 13/8.

Hạ tầng nghiên cứu là mắt xích quan trọng đối với các ngành công nghệ chiến lược, song đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Không phải doanh nghiệp, startup, viện nghiên cứu hay trường đại học nào cũng có khả năng tự đầu tư hệ thống thiết bị hiện đại, nhất là khi công nghệ liên tục thay đổi, chi phí vận hành và bảo trì cao.
Từ thực tế này, NIC và Thermo Fisher Scientific hướng tới phát triển phòng thí nghiệm dùng chung tại NIC Hòa Lạc, phục vụ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, kiểm thử công nghệ và đào tạo nhân lực.
Phó Giám đốc NIC Võ Xuân Hoài cho biết, mục tiêu hợp tác không dừng ở việc đưa thiết bị, công nghệ vào Việt Nam mà hướng tới xây dựng mô hình hạ tầng nghiên cứu mở. Qua đó, các chủ thể trong hệ sinh thái có thể tiếp cận công nghệ, thiết bị và chuyên gia theo tiêu chuẩn quốc tế với chi phí và thời gian hợp lý hơn.
Nếu được triển khai hiệu quả, phòng thí nghiệm dùng chung có thể trở thành “hạ tầng trung gian” kết nối nghiên cứu với thị trường. Các ý tưởng có điều kiện được kiểm thử; startup phát triển nguyên mẫu; doanh nghiệp đánh giá sản phẩm; trường đại học, viện nghiên cứu nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng. Mô hình này cũng giúp kết nối những nguồn lực nghiên cứu còn phân tán, nâng hiệu suất khai thác thiết bị, mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến và thúc đẩy hợp tác giữa giới nghiên cứu với doanh nghiệp.
Theo định hướng hợp tác, NIC và Thermo Fisher Scientific sẽ xây dựng lộ trình triển khai, đồng thời hướng tới thu hút thêm các tập đoàn công nghệ, tổ chức nghiên cứu và đối tác quốc tế tham gia. Mục tiêu là hình thành tại Hòa Lạc mô hình hạ tầng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo dùng chung theo tiêu chuẩn quốc tế, từng bước mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ chiến lược khác.
Hạ tầng công nghệ phải gắn với thị trường
Một hạ tầng công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường, Tổng Giám đốc FPT Nguyễn Văn Khoa nhấn mạnh khi đề cập con đường phát triển ngành bán dẫn Việt Nam.
Theo ông Khoa, câu hỏi đầu tiên đối với một sản phẩm không phải công nghệ tiên tiến đến đâu mà là “sản phẩm đó bán cho ai”. Từ nhu cầu thị trường mới xác định sản phẩm, công nghệ, hạ tầng và nhân lực phù hợp.
Chuỗi giá trị bán dẫn trải rộng từ thiết kế, sản xuất đến đóng gói, kiểm thử. Việt Nam khó có thể cùng lúc làm chủ toàn bộ các khâu, nhưng có thể lựa chọn những công đoạn phù hợp với năng lực, lợi thế của mình. Vấn đề là xác định Việt Nam có thể tạo ra giá trị ở đâu và những lĩnh vực nào cần hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới.
Từ góc nhìn đó, hạ tầng dùng chung không chỉ phục vụ nghiên cứu trong nước mà có thể trở thành cầu nối để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đại diện FPT đề xuất xây dựng các phòng thí nghiệm tập trung phục vụ kiểm soát lỗi, đánh giá sản phẩm chip mới và kỹ thuật đảo ngược. Xa hơn, kết quả thử nghiệm, đánh giá tại Việt Nam cần từng bước đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế để có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng toàn cầu.
Đại diện Thermo Fisher Scientific Gianluca Pettiti đánh giá Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển công nghệ cao, song cần tiếp tục đầu tư hạ tầng nghiên cứu, công nghệ, nhân lực và tăng kết nối giữa nghiên cứu với doanh nghiệp. Thermo Fisher Scientific cho biết sẵn sàng hợp tác với Việt Nam phát triển hệ sinh thái bán dẫn, AI và đổi mới sáng tạo.
Theo Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam, giai đoạn 2024 - 2030, mục tiêu đặt ra là doanh thu công nghiệp bán dẫn đạt trên 25 tỷ USD mỗi năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt 10 - 15%; doanh thu công nghiệp điện tử đạt trên 225 tỷ USD mỗi năm, giá trị gia tăng đạt 10 - 15%.
Để đạt các mục tiêu trên, bài toán không chỉ là thu hút thêm dự án mà còn phải nâng cao năng lực nội sinh, kết nối thị trường, doanh nghiệp, nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và các đối tác quốc tế.
Theo các chuyên gia, nếu được vận hành theo hướng mở và kết nối chặt với doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm dùng chung có thể trở thành một “nút giao” của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở thiết bị được đầu tư, mà ở khả năng biến thiết bị thành năng lực nghiên cứu, kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và đưa sản phẩm ra thị trường.