Cần quy định rõ điều kiện áp dụng cơ chế cấp băng tần đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh
Phát biểu tại hội trường sáng 13/8 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) đề nghị quy định rõ điều kiện áp dụng cơ chế cấp băng tần đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh; đồng thời phân loại các trường hợp thay đổi thông tin liên quan đến giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, tránh tăng thủ tục thay vì giảm.
Tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tập trung góp ý 3 vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên tần số, chia sẻ hạ tầng viễn thông và thủ tục kinh doanh dịch vụ tin cậy.
“Trường hợp đặc biệt” và “tỷ lệ cơ bản” còn mang tính định tính
Góp ý khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật, sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 4 Điều 18 Luật Tần số vô tuyến điện về cấp băng tần cho doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh để phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tán thành cơ chế đặc thù này, nhất là khi phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Theo đại biểu, việc nâng thời hạn cấp phép ban đầu lên 5 năm là phù hợp với đặc thù đầu tư hạ tầng viễn thông cần nguồn lực lớn, thời gian triển khai và thu hồi vốn dài.

Tuy nhiên, đây là ngoại lệ đối với băng tần mà theo nguyên tắc thông thường được cấp thông qua đấu giá, nên điều kiện áp dụng phải được quy định rõ, bảo đảm minh bạch và cạnh tranh bình đẳng.
Đại biểu lưu ý, quy định “trường hợp đặc biệt” và “tỷ lệ cơ bản” hiện còn mang tính định tính. Trong khi đó, Nghị định số 63/2023/NĐ-CP đang xác định lượng tần số phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh tối thiểu bằng 51% tổng lượng tần số đề nghị cấp phép.
Theo ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú, đây là tiêu chí quyết định bản chất của cơ chế cấp đặc biệt. Vì vậy, cần bổ sung trong Luật nguyên tắc việc cấp băng tần phải gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo đảm phần tài nguyên tần số phục vụ quốc phòng, an ninh chiếm tỷ lệ chủ yếu; đồng thời quy định tỷ lệ cụ thể, còn Chính phủ quy định phương pháp xác định, đo lường, giám sát phù hợp.
Đại biểu cũng đề nghị tách bạch phần tài nguyên phục vụ quốc phòng, an ninh với phần sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Theo đó, phần tài nguyên sử dụng cho kinh doanh phải được hạch toán minh bạch, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, đại biểu cho biết, khi dành hoặc chia sẻ phổ tần vì mục tiêu công cộng đặc biệt, các tiêu chí phải khách quan, minh bạch, tương xứng và không phân biệt đối xử; việc gia hạn quyền sử dụng phải xem xét cả hiệu quả sử dụng và ảnh hưởng đến cạnh tranh.
Cũng liên quan đến cơ chế đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, góp ý khoản 3 Điều 2 sửa đổi Điều 47 Luật Viễn thông về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đồng tình với chủ trương sử dụng hạ tầng lưỡng dụng, tránh đầu tư trùng lặp và tiết kiệm nguồn lực.
Tuy nhiên, theo đại biểu, dự thảo hiện giao Chính phủ quy định cơ chế, chính sách chia sẻ quá rộng. Báo cáo tiếp thu cho biết cơ chế đặc thù dự kiến áp dụng đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; phạm vi chủ yếu là hạ tầng viễn thông thụ động, tuyến và sợi cáp quang; chi phí khấu hao, bảo trì được xử lý theo pháp luật về thuế, kế toán, quản lý vốn nhà nước.
“Nếu đã xác định như vậy thì phạm vi chủ thể và những nguyên tắc cơ bản cần được đưa vào Luật”, đại biểu nêu rõ, bởi đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật viễn thông, việc chia sẻ còn liên quan trực tiếp đến quyền tài sản, vốn nhà nước, thuế, chi phí doanh nghiệp và cạnh tranh.

Theo ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú, Luật cần xác định rõ mục đích chỉ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của hạ tầng; bảo đảm bù đắp chi phí hợp lý, an toàn thông tin, an ninh mạng và bí mật nhà nước. Báo cáo thẩm tra cũng đã yêu cầu làm rõ các nội dung này.
Từ đó, đại biểu đề nghị khoản 4 Điều 47 xác lập ngay các nguyên tắc: cơ chế đặc thù áp dụng cho chủ thể nào; chỉ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; hạ tầng được chia sẻ không được sử dụng cho mục đích kinh doanh; không làm suy giảm hoạt động bình thường hoặc an toàn kỹ thuật; chi phí được xử lý theo pháp luật về vốn nhà nước, thuế, kế toán; bảo đảm an ninh mạng, bí mật nhà nước.
Chia sẻ kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu, đại biểu cho biết, hạ tầng và phổ tần được khuyến khích nhằm sử dụng tài nguyên hiệu quả, nhưng các điều kiện phải minh bạch, tương xứng và việc thực hiện vẫn phải tuân thủ pháp luật về cạnh tranh.
Bỏ thủ tục gia hạn nhưng không để tăng thủ tục cấp lại
Đối với Điều 3 dự thảo Luật, sửa đổi khoản 4 Điều 28 Luật Giao dịch điện tử liên quan đến việc bỏ thủ tục “gia hạn” và “thay đổi nội dung” giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tán thành phương án bỏ thủ tục gia hạn.
Theo đại biểu, Báo cáo giải trình cho thấy thủ tục này ban đầu chủ yếu nhằm xử lý tình huống doanh nghiệp đang chia, tách, hợp nhất, sáp nhập nhưng chưa kịp hoàn tất thủ tục cấp lại; hiện pháp luật về doanh nghiệp đã được đơn giản hóa và thực hiện nguyên tắc kế thừa quyền, nghĩa vụ.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ: bỏ “thay đổi nội dung” không nên có nghĩa mọi thay đổi đều chuyển thành cấp lại... "Nếu đổi tên, địa chỉ, người đại diện hoặc thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp mà vẫn bắt cấp lại giấy phép thì thực tế có thể tăng thủ tục thay vì giảm”, đại biểu phân tích. Từ đó, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị phân loại hai trường hợp. Đối với thay đổi thông tin hành chính đã có trong cơ sở dữ liệu nhà nước, thực hiện theo hướng tự động đồng bộ hoặc thông báo. Đối với thay đổi liên quan đến điều kiện an toàn, an ninh, giải pháp kỹ thuật, hệ thống cung cấp dịch vụ thì thực hiện cấp lại.
Đại biểu đề nghị Chính phủ quy định rõ nội dung này khi sửa đổi Nghị định số 23/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã cam kết thủ tục cấp lại sẽ sử dụng dữ liệu sẵn có và rút ngắn thời gian xử lý.
Do dịch vụ tin cậy vận hành liên tục và là đầu vào của thanh toán, ngân hàng, dịch vụ công, đại biểu đề nghị có thêm cơ chế bảo đảm không gián đoạn dịch vụ. Theo đó, doanh nghiệp nộp hồ sơ cấp lại đúng thời hạn được tiếp tục hoạt động cho tới khi có quyết định, trừ trường hợp bị tạm đình chỉ vì lý do an toàn, an ninh.
Đại biểu cũng thông tin thêm, kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào chu kỳ gia hạn giấy phép, nhà cung cấp dịch vụ tin cậy đủ điều kiện phải được đánh giá sự phù hợp ít nhất 24 tháng một lần; cơ quan giám sát có quyền kiểm tra bất cứ lúc nào và có thể rút tư cách khi không khắc phục vi phạm.