Tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế, mở rộng không gian hợp tác đối ngoại
Để công tác đối ngoại địa phương phát huy tối đa hiệu quả, việc hoàn thiện hành lang pháp lý gắn liền với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đang đặt ra nhiều đòi hỏi cấp thiết. Đợt khảo sát của Đoàn khảo sát Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tại các xã biên giới Dân Hóa, A Lưới 1 cùng UBND tỉnh Quảng Trị và UBND thành phố Huế đã nhận diện rõ những bất cập từ thực tiễn phục vụ công tác thẩm tra, hoàn thiện dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi).

Nhận diện bất cập thể chế và "khoảng trống" thẩm quyền
Sau hơn 5 năm triển khai Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020, công tác ký kết và thực hiện các văn kiện hợp tác tại địa phương đạt nhiều kết quả quan trọng. Luật tạo lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động đối ngoại. Các hoạt động hợp tác được triển khai nghiêm túc, đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ chủ quyền, bảo đảm quốc phòng - an ninh biên giới. Nhiều thỏa thuận được ký kết phát huy tác dụng thiết thực trong thu hút nguồn lực đầu tư, phát triển du lịch, bảo tồn di sản, đào tạo nhân lực, tuần tra song phương và quản lý đường biên, mốc quốc giới.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật tại địa phương cũng bộc lộ không ít "điểm nghẽn" thể chế, chưa theo kịp sự phát triển của công tác đối ngoại trong giai đoạn mới. Bất cập lớn nhất là Luật năm 2020 chưa quy định UBND cấp xã là chủ thể có thẩm quyền ký kết thỏa thuận quốc tế.

Đối với các xã biên giới — nơi trực tiếp quản lý đường biên và phát sinh nhiều nhu cầu hợp tác quy mô nhỏ, mang tính kỹ thuật hoặc ứng phó khẩn cấp với thiên tai, dịch bệnh — việc thiếu thẩm quyền ký kết tạo ra rào cản đáng kể. Việc phải báo cáo qua nhiều tầng nấc trung gian không chỉ làm giảm tính chủ động, kịp thời của lực lượng thực thi nơi tuyến đầu mà còn chưa tương ứng với yêu cầu quản lý. Báo cáo từ xã A Lưới 1 chỉ ra: khi xuất hiện các sự cố thiên tai, dịch bệnh cần ứng phó khẩn cấp hay các hợp tác kỹ thuật nhỏ với cụm bản nước bạn Lào, việc cơ sở bắt buộc phải lập hồ sơ báo cáo lên các cấp trên theo đúng quy trình hành chính kéo dài đã làm lỡ mất 'thời điểm vàng' để giải quyết công việc."

Bên cạnh đó, việc thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp và sắp xếp các đơn vị hành chính cũng phát sinh vướng mắc. Nhiều địa phương lúng túng khi xử lý hiệu lực, điều chỉnh hoặc kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với các thỏa thuận do cấp huyện ký kết trước đây do thiếu quy định hướng dẫn chi tiết. Thực tiễn tại thành phố Huế và tỉnh Quảng Trị cho thấy, nhu cầu hợp tác đối ngoại từ khối đơn vị sự nghiệp công lập (trường học, bệnh viện, cơ quan bảo tồn di sản) rất lớn, nhưng hành lang pháp lý hiện hành chưa bao quát cụ thể. Quy trình lấy ý kiến các cơ quan chức năng trước khi ký kết cũng còn qua nhiều bước, kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến cơ hội hợp tác với đối tác nước ngoài.

Cùng với bất cập về thể chế, áp lực về nguồn lực và nhân sự thực thi là thách thức lớn. Cán bộ tham mưu công tác đối ngoại ở cấp cơ sở phần lớn là kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo chuyên sâu về pháp luật quốc tế và kỹ năng đàm phán. Kinh phí dành cho các hoạt động hợp tác và triển khai văn kiện đã ký kết còn rất hạn hẹp, nhất là ở các địa bàn biên giới khó khăn.
Đẩy mạnh phân cấp và chuyển đổi số
Từ thực tế đó, UBND các địa phương đã nêu nhiều đề xuất thiết thực. Nổi bật là kiến nghị từ chính quyền xã Dân Hóa và A Lưới 1 về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho cơ sở: cần quy định rõ phạm vi điều chỉnh đối với từng loại văn bản hợp tác quốc tế; thống nhất tên gọi, hình thức của các thỏa thuận quốc tế; đồng thời, ban hành hướng dẫn cụ thể đối với việc ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế của UBND cấp xã biên giới sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Các địa phương đề xuất bổ sung quy định cho phép UBND xã khu vực biên giới được quyền ký kết một số thỏa thuận hợp tác quốc tế quy mô nhỏ, có tính chất kỹ thuật. Để kiểm soát chặt chẽ, việc mở rộng này đề xuất đi kèm các điều kiện ràng buộc như phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận chủ trương, nội dung phù hợp với luật pháp Việt Nam và không làm phát sinh nghĩa vụ tài chính vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương.

Địa phương cũng kiến nghị luật mới cần bổ sung quy định chi tiết về thẩm quyền cho đơn vị sự nghiệp công lập, xử lý rõ cơ chế chuyển tiếp khi thay đổi địa giới hành chính. Trung ương đơn giản hóa thủ tục hành chính, áp dụng cơ chế thông báo hoặc quy trình rút gọn đối với các thỏa thuận kỹ thuật đơn giản; sớm xây dựng "hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thỏa thuận quốc tế kết nối liên thông toàn quốc" để tra cứu trạng thái hiệu lực theo thời gian thực; hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc áp dụng chữ ký điện tử trong giao dịch đối ngoại. Địa phương cũng mong muốn Trung ương bảo đảm nguồn kinh phí và tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đàm phán, ký kết cho đội ngũ cán bộ cơ sở.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Đinh Công Sỹ ghi nhận, đánh giá cao tính thực tiễn từ những ý kiến, đề xuất của các địa phương. Những phản ánh về vướng mắc thẩm quyền, điểm nghẽn về nhân lực và cơ chế tài chính tại các xã biên giới là tư liệu thực tế vô cùng quý giá. Đoàn khảo sát sẽ tiếp thu, tổng hợp đầy đủ các nội dung phục vụ công tác thẩm tra, chỉnh lý dự thảo Luật Thỏa thuận quốc tế (thay thế) trình Quốc hội, hướng tới xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, vừa bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia, vừa tạo động lực chủ động tối đa cho các địa phương trong hoạt động hợp tác quốc tế.