Không để “giấy phép con” biến tướng dưới hình thức khác
Thảo luận tại tổ sáng 7/8 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, các ĐBQH tán thành với việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, song cũng đề nghị việc cắt giảm các thủ tục và điều kiện kinh doanh phải thực chất, không để tình trạng “giấy phép con” biến tướng dưới hình thức khác.
ĐBQH Đặng Ngọc Huy (Quảng Ngãi): Cần xây dựng cơ chế đánh giá cải cách hành chính dựa trên khảo sát độc lập từ doanh nghiệp và người dân
Thực tiễn giám sát nhiều năm qua cho thấy một nghịch lý: cải cách thủ tục hành chính thường dừng lại ở việc giảm trên văn bản, trong khi chi phí thực hiện của doanh nghiệp không giảm tương ứng, thậm chí ở một số lĩnh vực còn phát sinh thêm.

Nguyên nhân nằm ở cách tiếp cận cải cách theo tên gọi thay vì theo bản chất. Có những giấy phép được bãi bỏ ở cấp trung ương nhưng lại được thay thế bằng các văn bản mang tên gọi khác như “văn bản đồng ý”, “xác nhận”, “hướng dẫn”, “chấp thuận”. Về bản chất, doanh nghiệp vẫn phải chờ đợi, vẫn phải xin ý kiến cơ quan nhà nước và vẫn phải gánh chịu chi phí như trước khi cải cách.
Đơn cử, trong quy trình nhập khẩu động vật và sản phẩm động vật theo Thông tư số 01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn là một minh chứng rõ. Thủ tục “giấy phép” đã được bãi bỏ, nhưng lô hàng chỉ được thông quan khi có “văn bản đồng ý và hướng dẫn kiểm dịch” của cơ quan quản lý.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đề nghị bổ sung vào dự thảo Luật nguyên tắc: mọi văn bản hành chính của cơ quan nhà nước, không phân biệt tên gọi, nếu là điều kiện bắt buộc để tổ chức, cá nhân được thực hiện hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh thì đều phải được coi là điều kiện kinh doanh và chịu sự kiểm soát như nhau. Đây là giải pháp trực tiếp để ngăn chặn tình trạng “giấy phép con” biến tướng dưới hình thức khác.
Đề nghị Chính phủ xây dựng cơ chế đánh giá cải cách hành chính dựa trên khảo sát độc lập từ phía doanh nghiệp và người dân, lấy mức độ hài lòng, chi phí tuân thủ thực tế và thời gian giải quyết thủ tục làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, thay vì chỉ dựa trên số lượng văn bản được sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Bổ sung nguyên tắc một thủ tục hành chính chỉ giao một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả giải quyết, tránh tình trạng doanh nghiệp phải xin ý kiến qua nhiều cấp, nhiều cơ quan, kéo dài thời gian và phát sinh chi phí không cần thiết.
Cùng với đó, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải được thực hiện đồng bộ với việc xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung, cơ chế quản lý rủi ro theo mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và quy định rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước khi để xảy ra vi phạm sau cấp phép.
ĐBQH Nguyễn Như So (Bắc Ninh): Bổ sung nguyên tắc về điều phối tổng đàn vật nuôi theo vùng sinh thái và theo từng ngành hàng
Về hạn ngạch chăn nuôi, Luật Chăn nuôi hiện mới quy định các điều kiện kỹ thuật trong chăn nuôi như môi trường, an toàn sinh học, mật độ chăn nuôi nhưng chưa thiết lập cơ chế điều tiết tổng đàn vật nuôi ở tầm quốc gia và theo từng vùng sinh thái nhằm ổn định cung - cầu thị trường.

Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, ngành chăn nuôi lợn luôn lặp lại vòng luẩn quẩn "giá cao thì tăng đàn, giá thấp thì giảm đàn", khi giá tăng, nhiều doanh nghiệp và hộ chăn nuôi đồng loạt mở rộng quy mô; đến khi sản phẩm đồng loạt xuất bán lại xảy ra tình trạng dư cung, giá giảm sâu, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và làm mất ổn định thị trường.
Đặc biệt, với sự phát triển của các doanh nghiệp FDI quy mô lớn, chỉ một vài dự án chăn nuôi hàng chục nghìn hoặc hàng trăm nghìn con cũng có thể làm thay đổi đáng kể cán cân cung - cầu của cả một vùng, nhưng Luật hiện chưa có cơ chế đánh giá tác động của việc tăng đàn hoặc cấp phép dự án mới đối với tổng nguồn cung của thị trường.
Do đó, đề nghị cần bổ sung trong Luật một nguyên tắc về điều phối tổng đàn vật nuôi theo vùng sinh thái và theo từng ngành hàng. Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết các công cụ điều tiết phù hợp như chỉ tiêu phát triển đàn theo vùng, kiểm soát việc hình thành cơ sở chăn nuôi mới hoặc cơ chế hạn ngạch phát triển quy mô đàn trong từng giai đoạn khi thị trường có nguy cơ dư cung nghiêm trọng.
Nếu Luật không quy định nguyên tắc này mà chỉ tập trung quản lý điều kiện kỹ thuật của từng cơ sở chăn nuôi thì sẽ tiếp tục thiếu công cụ pháp lý để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng thiếu - thừa tái diễn theo chu kỳ, ảnh hưởng đến người chăn nuôi, doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của ngành.
ĐBQH Nguyễn Văn Huy (Hưng Yên): Làm rõ phương pháp đánh giá rủi ro, tiêu chí lựa chọn nội dung cắt giảm và các biện pháp quản lý thay thế
Qua nghiên cứu dự thảo Luật, tôi nhận thấy có nhiều thủ tục, điều kiện đầu tư kinh doanh được đề xuất bãi bỏ hoặc đơn giản hóa theo yêu cầu cải cách. Đây là chủ trương cần thiết. Tuy nhiên, tôi băn khoăn về tiêu chí lựa chọn các nội dung được cắt giảm.

Tôi đề nghị Ban soạn thảo làm rõ: “Căn cứ nào để xác định một điều kiện kinh doanh là không còn cần thiết, trong khi những điều kiện khác vẫn tiếp tục được duy trì. Việc đánh giá có dựa trên mức độ rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng, môi trường, chất lượng sản phẩm, hay chỉ dựa trên mục tiêu giảm số lượng thủ tục hành chính?”.
Với phương pháp tư duy khi nghiên cứu xuyên suốt các dự án luật được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thì cải cách thủ tục hành chính không nên được hiểu đơn thuần là cắt giảm tối đa, mà cần chuyển từ tư duy quản lý bằng giấy phép sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Đối với những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, môi trường và quyền lợi của hàng triệu hộ nông dân, việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh cần được cân nhắc hết sức thận trọng.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, một số vụ việc liên quan đến phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hoặc giống cây trồng kém chất lượng đã gây thiệt hại lớn cho người sản xuất. Trong nhiều trường hợp, chi phí xã hội để xử lý hậu quả còn lớn hơn rất nhiều so với chi phí tuân thủ một thủ tục hành chính được thiết kế hợp lý.
Vì vậy, tôi đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ phương pháp đánh giá rủi ro, tiêu chí lựa chọn nội dung cắt giảm và các biện pháp quản lý thay thế, để bảo đảm mục tiêu cải cách thủ tục hành chính đi đôi với yêu cầu quản lý nhà nước hiệu quả và bảo vệ lợi ích của người dân.