Hạ tầng văn hóa số - động lực bứt phá cho kinh tế sáng tạo
Số hóa không chỉ giúp bảo tồn di sản mà trở thành nền tảng thiết yếu để phát triển công nghiệp văn hóa và bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Trong kỷ nguyên mới, xây dựng hạ tầng văn hóa số đồng bộ là chìa khóa để Việt Nam biến những giá trị văn hóa thành động lực tăng trưởng.
Kết hợp giữa bảo tồn và sáng tạo
Tại Phiên họp thứ Hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra thông điệp về “ba chuyển dịch lớn” phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Trọng tâm của chuyển dịch là xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy bảo tồn thụ động sang kết hợp giữa bảo tồn và sáng tạo.

Theo đó, khối lượng dữ liệu di sản số phải phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa, biến di sản thành tài sản, động lực kinh tế. Điều này cũng phù hợp với định hướng trong Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học - công nghệ, coi dữ liệu số là tư liệu sản xuất và lực lượng sản xuất mới, giúp nâng cao năng suất và sức cạnh tranh nền kinh tế, hướng tới mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030.
Theo Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam, PGS. TS. Đỗ Văn Trụ, di sản văn hóa được nhấn mạnh ở khía cạnh giá trị là tài sản văn hóa, thể hiện bản sắc và sự kế tục. Những năm qua, di sản ngày càng chứng minh vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển, là nguồn lực dồi dào cho tăng trưởng kinh tế và là điểm tựa vững chắc cho đời sống tinh thần, môi trường nuôi dưỡng và làm giàu bản sắc văn hóa, đa dạng văn hóa.
“Việc khai thác nguồn lực di sản văn hóa còn kéo theo sự phát triển của nhiều yếu tố khác như kết cấu hạ tầng, dịch vụ, sự mở rộng giao lưu và gia tăng các dòng chảy hàng hóa, lao động... tạo ra sự phát triển bao trùm và hài hòa. Ngày càng nhiều cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng sử dụng hiệu quả di sản văn hóa, tạo ra lợi nhuận. Những không gian văn hóa như vậy không chỉ trở thành sản phẩm văn hóa - thương mại tạo ra tăng trưởng kinh tế, mà còn lan tỏa giá trị di sản, góp phần vào sự phát triển xã hội hài hòa, nhân văn và có bản sắc...”, PGS. TS. Đỗ Văn Trụ chỉ ra.
Ngày 9/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số, nêu rõ khuyến khích sử dụng sản phẩm, dịch vụ văn hóa số do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung cấp. Nghị định này quy định chi tiết khoản 1, khoản 3 và khoản 5, Điều 10, Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng, đặt nền móng pháp lý để số hóa di sản, mở rộng khả năng tiếp cận cho toàn dân, đồng thời thúc đẩy công nghiệp văn hóa và bảo vệ chủ quyền số quốc gia.
Bối cảnh mới, năng lực quản trị mới
Phát triển hạ tầng văn hóa số là chìa khóa giải bài toán kép: vừa bảo tồn giá trị truyền thống trước áp lực thời gian, biến đổi khí hậu và đô thị hóa, vừa biến di sản thành nguồn tài nguyên của kinh tế sáng tạo. Tuy nhiên, từ số hóa vật lý đến xây dựng hệ sinh thái văn hóa số có khả năng tương tác, chia sẻ và tạo ra giá trị thặng dư là hành trình dài.
Theo số liệu của Cục Di sản văn hóa, Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Hiện quá trình thực hiện Chương trình số hóa di sản Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 đã đi được hơn nửa chặng đường, đạt được nhiều thành công. Tuy nhiên, quá trình thiết lập hạ tầng văn hóa số vẫn còn tình trạng phân mảnh, manh mún trong lưu trữ dữ liệu số hóa. Hiện tại, cả nước vẫn chưa hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu cấp quốc gia đồng bộ và liên thông. Nhiều dữ liệu di sản tại các địa phương chưa được chuẩn hóa, kết nối thành dữ liệu dùng chung, chưa được bảo hộ bản quyền, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo...
Quá trình thúc đẩy bảo tồn, phát triển hạ tầng văn hóa số tại Việt Nam đang đứng trước thời khắc bản lề. Cùng với đẩy mạnh số hóa di sản, cần quy hoạch, xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa đáp ứng tiêu chuẩn về tính liên thông, khả năng truy xuất nguồn gốc, bảo vệ bản quyền dữ liệu... Bên cạnh đó, cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật về hạ tầng văn hóa số liên quan đến quyền tác giả, công nghiệp văn hóa, an ninh dữ liệu, cơ chế hợp tác công - tư trong lĩnh vực bảo tồn di sản số...
Đặc biệt, giải pháp căn cơ là phát triển nhân lực liên ngành gắn công nghệ với văn hóa, quản trị dữ liệu di sản. PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam phân tích, kinh tế số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bảo tồn di sản, bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, công nghiệp văn hóa và các hình thức kết nối toàn cầu đang làm thay đổi điều kiện phát triển của xã hội. Trọng tâm của phát triển hạ tầng văn hóa số vì vậy phải gắn với năng lực tham gia, năng lực lựa chọn và khả năng chuyển hóa các điều kiện phát triển thành hành động có giá trị trong đời sống xã hội.
“Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái văn hóa cần bổ sung những năng lực quản trị mới. Số hóa di sản, dữ liệu văn hóa, bản quyền số, trí tuệ nhân tạo trong sáng tạo, nền tảng phân phối nội dung và bảo vệ chủ quyền văn hóa trong không gian số trở thành những nội dung quan trọng. Chủ thể sáng tạo Việt Nam cần được hỗ trợ để tiếp cận và sử dụng công nghệ, đồng thời bảo đảm công nghệ được vận dụng theo định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam và giữ gìn hệ giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc trong môi trường số”, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh.