Cắt giảm thủ tục hành chính phải đi vào thực chất, tránh phát sinh "cửa mới"
Sáng 7/8, thảo luận tại Tổ 14 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Quảng Ninh, Đồng Tháp) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, các ĐBQH thống nhất với chủ trương tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, các đại biểu nhấn mạnh, cải cách phải đi vào thực chất, bảo đảm người dân, doanh nghiệp thực sự được giảm chi phí tuân thủ, đồng thời không làm phát sinh "cửa mới".
Cải cách thủ tục hành chính đi đôi với tăng cường hậu kiểm
Đóng góp vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, các ĐBQH Tổ 14 bày tỏ sự tán thành với việc ban hành luật sửa đổi nhằm tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, các đại biểu cũng nhấn mạnh, cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi đôi với cơ chế quản lý hiệu quả, bảo đảm tính minh bạch và khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện.

Từ góc độ cải cách thủ tục hành chính, ĐBQH Nguyễn Thị Thúy Lam (Đồng Tháp) cho rằng, hiệu quả của lần sửa đổi này không nên chỉ được đo bằng số lượng thủ tục được cắt giảm trên văn bản mà quan trọng hơn là người dân, doanh nghiệp thực tế đi ít cửa hơn, không phải cung cấp lặp lại thông tin và thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn.
Trên tinh thần đó, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu tại Điều 46 của Luật Thú y. Theo đại biểu, quy định hiện nay yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện hai bước gồm đăng ký kiểm dịch và khai báo kiểm dịch trước khi hàng đến cửa khẩu. Dù phục vụ hai mục đích quản lý khác nhau, hai thủ tục này vẫn có nhiều nội dung trùng lặp về thông tin và hồ sơ. Vì vậy, Ban soạn thảo cần nghiên cứu khả năng tích hợp hoặc liên thông hai bước để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Đối với Luật Địa chất và khoáng sản, đại biểu tập trung góp ý hai nội dung. Thứ nhất, về việc chấp thuận đánh giá ảnh hưởng đến khoáng sản dự trữ, dự thảo giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, chấp thuận nội dung đánh giá, đại biểu đề nghị quy định rõ đây không phải là một thủ tục hành chính độc lập mà cần được lồng ghép ngay trong quá trình quyết định chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt dự án nhằm tránh phát sinh thêm thủ tục.
Thứ hai, đối với cơ chế phối hợp xử lý hồ sơ tại các khu vực khoáng sản nằm trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên, đại biểu đồng tình với phương án giao tỉnh có diện tích lớn nhất chủ trì giải quyết nhưng đề nghị bổ sung quy định về thời hạn lấy ý kiến, trách nhiệm của địa phương được lấy ý kiến, cũng như cơ chế xử lý khi các địa phương có quan điểm khác nhau để bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện.

Liên quan quy định chuyển tiếp tại Điều 12, đại biểu đánh giá quy định tiếp tục giải quyết các hồ sơ đã tiếp nhận trước khi Luật có hiệu lực theo pháp luật hiện hành sẽ bảo đảm tính ổn định. Tuy nhiên, vì mục tiêu của dự thảo là cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh nên cần nghiên cứu cơ chế cho phép các hồ sơ đang giải quyết được áp dụng ngay các quy định mới theo hướng đơn giản hóa thành phần hồ sơ, điều kiện và thủ tục, với điều kiện không làm thay đổi thẩm quyền, không gián đoạn quá trình giải quyết và vẫn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Để chủ trương cải cách đi vào thực chất, đại biểu đề nghị dự thảo Luật cần theo hướng cắt giảm thủ tục phải thực sự giảm nghĩa vụ của người dân và doanh nghiệp; phân cấp, phân quyền phải gắn với trách nhiệm đến cùng; chuyển đổi số phải bảo đảm cơ quan nhà nước không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.

Đồng quan điểm về yêu cầu cải cách thực chất, ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Phượng (Đồng Tháp) cho rằng, việc cắt giảm thủ tục hành chính phải đi đôi với duy trì các ràng buộc pháp lý cần thiết, lấy người dân làm trung tâm, vừa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, vừa bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Góp ý đối với Luật Trồng trọt, đại biểu thống nhất với quy định cho phép tổ chức, cá nhân tự công bố lưu hành giống cây trồng nhằm tăng tính chủ động. Tuy nhiên, do chất lượng giống chỉ có thể được kiểm chứng sau một thời gian sản xuất, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế quản lý và hậu kiểm chặt chẽ, đồng thời có chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm để bảo vệ quyền lợi của nông dân.
Đối với quy định thời hạn công nhận phân bón lưu hành là 10 năm, đại biểu đề nghị làm rõ số lần được gia hạn, thời gian gia hạn và quy trình hậu kiểm. Theo đại biểu, đây là cơ sở quan trọng để ngăn chặn tình trạng phân bón giả, kém chất lượng trên thị trường. Bên cạnh đó, cần bổ sung các quy định về chuyển đổi số trong quản lý, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo trong chọn tạo giống và xác định rõ trách nhiệm hậu kiểm của các cơ quan quản lý.
Đối với Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật, đại biểu bày tỏ băn khoăn về quy định giấy chứng nhận mua bán thuốc bảo vệ thực vật không có thời hạn. Theo đại biểu, đây là mặt hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và môi trường nên nếu bỏ quy định về thời hạn thì cần đồng thời thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ để kịp thời phát hiện các chất cấm phát sinh và bảo đảm an toàn trong quá trình kinh doanh.
Góp ý đối với Luật Chăn nuôi, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ "tự chịu trách nhiệm" đối với tổ chức, cá nhân thực hiện tự công bố hoặc thay đổi thông tin thức ăn chăn nuôi trên cổng thông tin điện tử nhằm tăng tính ràng buộc pháp lý và trách nhiệm của chủ thể thực hiện.
Liên quan quy định chuyển tiếp tại Điều 12, đại biểu cho rằng việc kéo dài thêm 5 năm đối với các giấy phép được cấp từ đầu năm 2026 sẽ khiến tổng thời hạn sử dụng lên gần 10 năm. Theo đại biểu, đây là khoảng thời gian quá dài đối với các giấy phép trong lĩnh vực phân bón và thuốc bảo vệ thực vật - những lĩnh vực đòi hỏi phải được kiểm tra, giám sát thường xuyên để bảo đảm chất lượng và an toàn.
Đánh giá kỹ thực tiễn trước khi luật hóa các quy định đặc thù
Khẳng định việc sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phục vụ mô hình chính quyền địa phương hai cấp, song các ĐBQH Tổ 14 cho rằng, điều quan trọng không chỉ là ban hành chính sách mà còn phải bảo đảm tổ chức thực thi hiệu quả để các quy định nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Góp ý cụ thể vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trồng trọt, Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật và Luật Chăn nuôi, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà (Quảng Ninh) cho rằng, việc hoàn thiện các quy định về điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và cơ chế quản lý chuyên ngành là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm các địa phương triển khai hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp.

Cụ thể, về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trồng trọt, Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật và Luật Chăn nuôi, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà (Quảng Ninh) nhấn mạnh, việc hoàn thiện các quy định về điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và cơ chế quản lý chuyên ngành có ý nghĩa quan trọng, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa bảo đảm các địa phương triển khai hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp.
Đối với Luật Trồng trọt, đại biểu bày tỏ băn khoăn về đề xuất bãi bỏ quy định công nhận tổ chức khảo nghiệm giống cây trồng. Theo đại biểu, khảo nghiệm là căn cứ quan trọng để đánh giá giá trị canh tác, giá trị sử dụng của giống trước khi đưa vào lưu hành. Nếu bãi bỏ cơ chế công nhận mà chưa có giải pháp quản lý thay thế phù hợp sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, độ tin cậy của kết quả khảo nghiệm và chất lượng giống cây trồng.

Đối với Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật, đại biểu đề nghị bổ sung đầy đủ quy định về trách nhiệm hướng dẫn thu gom, xử lý, tiêu hủy bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng để bảo vệ môi trường. Cùng với đó, cần quy định rõ mô hình tổ chức, cơ chế chỉ đạo chuyên môn và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ thực vật ở cấp xã. Theo đại biểu, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ quản lý trong khi đây là lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn sâu, liên quan trực tiếp đến chất lượng nông sản và an toàn môi trường.
Để bảo đảm việc thực thi thống nhất, đại biểu cho rằng cần xây dựng quy trình, tiêu chuẩn hướng dẫn áp dụng trên phạm vi cả nước, tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện theo một cách khác nhau. Đồng thời, cần thiết lập quy trình phối hợp điện tử giữa hải quan, cơ quan kiểm nghiệm và cơ quan quản lý chuyên ngành nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật.
Đối với Luật Chăn nuôi, đại biểu đề nghị quy định cụ thể việc công khai thông tin và đánh giá mức độ rủi ro đối với các dòng vật nuôi mới. Đây là cơ sở bảo đảm tính minh bạch, đồng thời giúp người chăn nuôi và cơ quan quản lý theo dõi, giám sát chất lượng trước khi đưa vào sản xuất đại trà.
Đồng tình với chủ trương cải cách thủ tục hành chính của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, ĐBQH Trần Thị Kim Nhung (Quảng Ninh) cho rằng, việc xây dựng và trình Quốc hội dự án luật theo quy trình rút gọn vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.

Theo đại biểu Trần Thị Kim Nhung, với khối lượng nội dung sửa đổi rất lớn và thời gian chuẩn bị, thẩm tra, thảo luận đều gấp, các ĐBQH cũng khó có điều kiện nghiên cứu toàn diện từng quy định mà chủ yếu chỉ có thể góp ý đối với một số nội dung cụ thể. Bày tỏ băn khoăn về việc luật hóa các quy định đặc thù tại Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ, đại biểu cho rằng, Nghị quyết số 66/NQ-CP được ban hành trong bối cảnh đặc biệt nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách về cải cách thủ tục hành chính nên nhiều quy định còn mới, chưa được kiểm chứng đầy đủ trong thực tiễn. Vì vậy, việc đưa ngay các quy định này vào luật áp dụng chung khi chưa có đánh giá toàn diện về hiệu quả sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh những bất cập mới trong quá trình tổ chức thực hiện.
Từ thực tế đó, các quy định đã được ban hành theo Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ cần được tiếp tục đánh giá đầy đủ, thuyết phục trước khi luật hóa, đại biểu Trần Thị Kim Nhung đề nghị.