Hà Nội kiến tạo động lực tăng trưởng mới từ kinh tế số, xã hội số
UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 3806/QĐ-UBND phê duyệt “Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030”.
Đây được xem là một bước cụ thể hóa định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Thủ đô, trong đó kinh tế số và xã hội số không chỉ là yêu cầu về ứng dụng công nghệ mà được xác định là động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả quản trị.
Kinh tế số chiếm 40% GRDP vào năm 2030
Theo chương trình, Hà Nội xác định phát triển kinh tế số, xã hội số là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số. Trong đó, doanh nghiệp được xác định là trung tâm của phát triển kinh tế số, còn người dân là chủ thể của xã hội số.
Một điểm đáng chú ý là thành phố định hướng thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, môi trường phát triển; nhà trường đảm nhiệm đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển; doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp đưa công nghệ và các mô hình kinh doanh mới vào thực tiễn.

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng số lượng các dịch vụ trực tuyến, mà phải tạo được sự chuyển biến về phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị. Chuyển đổi số phải gắn với nâng cao năng suất, tạo thêm giá trị và mở rộng cơ hội tiếp cận cho người dân, doanh nghiệp.
Về kinh tế số, Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt 40% GRDP. Tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) phấn đấu đạt 57%. Thành phố đồng thời đặt mục tiêu tỷ lệ “Make in Viet Nam” trong tổng doanh thu công nghiệp công nghệ số đạt 50%, thể hiện định hướng tăng cường năng lực tự chủ về công nghệ và nâng cao vai trò của doanh nghiệp công nghệ trong nước.
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là một trong những đối tượng cần được hỗ trợ mạnh mẽ trong quá trình chuyển đổi. Hà Nội đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 120.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Đến năm 2030, 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa được định hướng hoạt động trên các nền tảng thương mại điện tử, trong khi 100% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử.
Đây không chỉ là câu chuyện ứng dụng thêm một công cụ công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc thúc đẩy thương mại điện tử, hợp đồng điện tử và các nền tảng số có thể góp phần giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực quản trị và tạo điều kiện để doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số.
Lấy người dân làm chủ thể, thu hẹp khoảng cách số
Nếu kinh tế số được đặt trong mối quan hệ với tăng trưởng thì xã hội số được Hà Nội tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm người dân có khả năng tiếp cận và thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số.
Thành phố đặt mục tiêu phủ sóng mạng băng rộng di động 5G cho 100% người dân; 100% công dân từ 14 tuổi trở lên có tài khoản định danh điện tử và trên 70% dân số trưởng thành có chữ ký số cá nhân.
Trong lĩnh vực y tế, Hà Nội phấn đấu có 95% người dân sở hữu hồ sơ sức khỏe điện tử. Đồng thời, 95% người dân được đặt mục tiêu có kỹ năng công nghệ thông tin, truyền thông cơ bản. Mạng lưới Trạm Công dân số sẽ được triển khai tại 100% xã, phường, nhằm hỗ trợ trực tiếp người dân tiếp cận các dịch vụ và kỹ năng số.

Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình chuyển đổi số. Bởi nếu hạ tầng số phát triển nhưng một bộ phận người dân không đủ điều kiện tiếp cận, thiếu kỹ năng hoặc không được hỗ trợ, khoảng cách số có thể trở thành một dạng khoảng cách phát triển mới.
Vì vậy, chương trình đặt yêu cầu quan tâm tới các nhóm có khả năng gặp khó khăn hơn trong tiếp cận công nghệ, gồm người cao tuổi, người khuyết tật và hộ nghèo. Hà Nội định hướng triển khai các chương trình hỗ trợ thiết bị thông minh với chi phí phù hợp và kết nối internet cho những nhóm này.
Mô hình Trạm Công dân số được kỳ vọng không chỉ hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính mà còn trở thành nơi hướng dẫn người dân sử dụng các dịch vụ số, nâng cao kỹ năng số và nhận diện nguy cơ mất an toàn trên môi trường mạng. Trong bối cảnh các công nghệ như AI, deepfake ngày càng được sử dụng phổ biến, yêu cầu trang bị kỹ năng nhận diện và phòng tránh các hành vi lừa đảo trên không gian mạng càng trở nên cấp thiết.
Một nội dung đáng chú ý khác là Hà Nội định hướng xây dựng Khung năng lực số cho công dân, đồng thời tổ chức đo lường, đánh giá định kỳ mức độ phổ cập kỹ năng số đến cấp xã, phường. Kết quả đánh giá được gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cấp chính quyền.
Cách làm này đặt chuyển đổi số trong mối quan hệ với trách nhiệm quản lý nhà nước, thay vì chỉ dừng ở việc hoàn thành các chỉ tiêu về hạ tầng và số lượng dịch vụ. Hiệu quả cuối cùng phải được phản ánh qua khả năng người dân sử dụng được các dịch vụ số, doanh nghiệp khai thác được các nền tảng số và chính quyền vận hành hiệu quả hơn.
Tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao
Hà Nội không định hướng phát triển kinh tế số theo cách dàn trải mà tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn và phù hợp với lợi thế của Thủ đô.
Trong đó, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) được xác định là một trong những hướng ưu tiên. Thành phố nghiên cứu hình thành sàn giao dịch dữ liệu, thí điểm các mô hình tài sản số, ứng dụng blockchain trong truy xuất nguồn gốc và bảo hộ tài sản trí tuệ. Tỷ trọng kinh tế dữ liệu được kỳ vọng chiếm tối thiểu 10% trong kinh tế số.
Logistics cũng là lĩnh vực được đặt mục tiêu phát triển theo hướng số hóa. Hà Nội hướng tới trở thành trung tâm logistics của vùng Đồng bằng sông Hồng và trung tâm E-logistics hàng đầu cả nước. Các cảng cạn ICD như Cổ Bi, Đông Anh, Đức Thượng và khu vực sân bay Nội Bài được định hướng số hóa, kết nối dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả vận tải và giảm chi phí logistics.
Đối với du lịch và văn hóa, chuyển đổi số được kỳ vọng tạo thêm phương thức khai thác giá trị di sản của Thủ đô. Hà Nội định hướng phát triển các tour du lịch ảo, ứng dụng công nghệ thực tế tăng cường (AR/VR), đồng thời hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa số để phát triển và thương mại hóa các sản phẩm nội dung số dựa trên nguồn tài nguyên di sản.
Trong sản xuất, các khu công nghiệp được định hướng chuyển đổi theo mô hình nhà máy thông minh, sản xuất xanh. Khu Công nghệ cao Hòa Lạc được xác định là hạt nhân nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa các công nghệ mới, trong đó có bán dẫn, vi điện tử và AI hiệu năng cao.
Để bảo đảm các mục tiêu được triển khai thực chất, Ban Chỉ đạo về chuyển đổi số thành phố sẽ trực tiếp điều phối nguồn lực. Các sở, ngành và UBND cấp xã có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thực hiện hằng năm, đồng thời bố trí kinh phí cụ thể.
Thành phố ưu tiên ngân sách cho hạ tầng dùng chung và các nền tảng số thiết yếu; đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, thu hút đầu tư mạo hiểm cho đổi mới sáng tạo. Việc thuê dịch vụ công nghệ thông tin thay cho đầu tư mới cũng được khuyến khích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công trong những trường hợp phù hợp.
Cùng với huy động nguồn lực trong nước, Hà Nội định hướng thu hút các tập đoàn công nghệ lớn và chuyên gia quốc tế tham gia hệ sinh thái kinh tế số của Thủ đô, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ số có năng lực mở rộng thị trường quốc tế.
Với chương trình giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu đặt ra đối với Hà Nội không chỉ là hoàn thành các chỉ tiêu về hạ tầng, dữ liệu hay dịch vụ số. Quan trọng hơn là chuyển những nền tảng đó thành năng lực tăng trưởng, năng lực quản trị và chất lượng sống của người dân. Đây cũng là thước đo để đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển đổi số, qua đó góp phần tạo dựng một Thủ đô hiện đại, bao trùm và có năng lực cạnh tranh cao hơn trong giai đoạn phát triển mới.