Quản lý dựa trên mức độ rủi ro
Thảo luận tại Tổ 8 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh: Bắc Ninh, Cà Mau), các đại biểu đề nghị, nghiên cứu hoàn thiện quy định trong Luật Chăn nuôi theo hướng, quản lý dựa trên mức độ rủi ro, không chỉ căn cứ vào diện tích đất mà cần tính đến tổng quy mô đàn vật nuôi, sức chịu tải môi trường, năng lực xử lý chất thải, công nghệ chuồng trại và điều kiện bảo đảm an toàn sinh học.
Xác định trách nhiệm bồi thường khi thông tin công bố giống cây trồng, vật nuôi không trung thực
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Trần Thị Hoa Ry, ĐBQH tỉnh Cà Mau thống nhất với phạm vi sửa đổi dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, tập trung vào các nội dung phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Tuy nhiên, qua rà soát, đại biểu lưu ý, một số nội dung không chỉ điều chỉnh về thẩm quyền, thủ tục mà còn làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực như khoáng sản, thú y, kiểm dịch, giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi.
Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, bảo đảm phạm vi sửa đổi đúng mục tiêu của dự án Luật; đối với những nội dung làm thay đổi chính sách quản lý hoặc có tác động lớn thì cần đánh giá tác động đầy đủ, tránh mở rộng phạm vi sửa đổi vượt quá yêu cầu đặt ra.
Đi vào nội dung cụ thể của Luật Trồng trọt, dự thảo Luật đã bãi bỏ hành vi buôn bán phân bón, giống cây trồng không bảo đảm chất lượng ra khỏi hành vi bị nghiêm cấm. Đại biểu Trần Thị Hoa Ry bày tỏ lo ngại về quy định này, vì nếu gặp phải phân bón, giống cây trồng không bảo đảm chất lượng sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đối với sản xuất và đời sống của người dân. Cử tri cũng đề nghị cơ quan có trách nhiệm tăng cường kiểm tra vấn đề này.
Liên quan đến quy định tự công bố lưu hành giống cây trồng, vật nuôi, đại biểu đề nghị nghiên cứu làm rõ về trách nhiệm pháp lý của các tổ chức cá nhân được tự công bố. Theo đó, cần có cơ chế hậu kiểm và cơ chế thu hồi kết quả tự công bố, xác định trách nhiệm bồi thường khi thông tin công bố không trung thực hoặc giống cây trồng vật nuôi không đảm bảo chất lượng.
ĐBQH Leo Thị Lịch (Bắc Ninh) cho rằng, dự thảo Luật đã tập trung cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, làm rõ thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính và quan tâm đến chuyển đổi số, liên thông cơ sở dữ liệu trong công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cần đánh giá tác động của các quy định được sửa đổi với khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo.

Đại biểu Leo Thị Lịch đề nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, những nội dung nào đã có trong cơ sở dữ liệu điện tử thì không bắt buộc phải cung cấp lại thông tin. Đồng thời, đặc biệt lưu ý đến cơ chế hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi còn nhiều khó khăn, một số nơi còn chưa bao phủ internet, nên phải có cơ chế hỗ trợ về thủ tục hành chính cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tạo điều kiện cho phát triển công nghệ cao
Tại Điều 53 dự thảo Luật quy định về quản lý mật độ chăn nuôi theo đơn vị vật nuôi trên diện tích đất nông nghiệp và giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh quy định cụ thể mật độ chăn nuôi.
ĐBQH Nguyễn Như So (Bắc Ninh) cho rằng, hiện nay, mật độ chăn nuôi chủ yếu được xác định theo đơn vị vật nuôi trên diện tích đất nông nghiệp và khoảng cách an toàn. Cách tiếp cận này phù hợp với mô hình chăn nuôi truyền thống, nhưng không còn đáp ứng yêu cầu quản lý đối với mô hình chăn nuôi công nghệ cao trong tương lai.

Dẫn thực tế của các nước đã xuất hiện các trang trại chăn nuôi nhiều tầng, trong đó, hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu vật nuôi được bố trí trong một tổ hợp nhiều tầng trên cùng một khu đất, đại biểu đặt câu hỏi, khi đó mật độ chăn nuôi sẽ được tính theo diện tích đất hay theo tổng diện tích sàn của một công trình?
Nếu tính theo diện tích đất thì chỉ số đơn vị vật nuôi trên một héc ta sẽ tăng gấp nhiều lần và rất dễ vượt ngưỡng mật độ theo quy định. Ngược lại, nếu tính theo tổng diện tích sàn thì pháp luật hiện hành lại chưa có quy định và cũng chưa có cơ sở pháp lý để xác định “héc ta diện tích sàn” trong quản lý mật độ chăn nuôi. Theo đại biểu, "đây là khoảng trống pháp lý cần được nghiên cứu ngay từ khi xây dựng Luật".
Đại biểu Nguyễn Như So cũng lưu ý, cách tính hiện nay có thể làm sai lệch việc đánh giá sức chịu tải của môi trường ở cấp địa phương.
Một tổ hợp chăn nuôi nhiều tầng có quy mô hàng triệu con nhưng chỉ sử dụng vài chục héc ta đất vẫn có thể khiến mật độ chăn nuôi của cả khu vực trên thực tế tăng rất cao, tạo áp lực rất lớn về chất thải, nước thải, khí thải, giao thông vận chuyển và nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Tuy nhiên, nếu chỉ lấy tổng số đơn vị vật nuôi chia cho tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn tỉnh thì chỉ tiêu này vẫn có thể nằm trong giới hạn cho phép, trong khi khu vực đặt trang trại lại đã vượt quá sức chịu tải của môi trường.
"Như vậy, chỉ tiêu mật độ tính theo diện tích đất chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro thực tế". Nhấn mạnh điều này, đại biểu Nguyễn Như So đề nghị, nghiên cứu hoàn thiện quy định theo hướng: quản lý dựa trên mức độ rủi ro, không chỉ căn cứ vào diện tích đất mà cần tính đến tổng quy mô đàn vật nuôi, sức chịu tải môi trường, năng lực xử lý chất thải, công nghệ chuồng trại và điều kiện bảo đảm an toàn sinh học.
"Có như vậy, luật mới vừa tạo điều kiện cho phát triển công nghệ cao, vừa bảo đảm kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường và phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, có tính dự báo để không nhanh chóng lạc hậu trước sự phát triển của khoa học, công nghệ", đại biểu nhấn mạnh.
Tránh vòng lặp “giá cao thì tăng đàn, giá thấp thì giảm đàn”
Về hạn ngạch chăn nuôi, đại biểu Nguyễn Như So nêu rõ, Luật Chăn nuôi hiện mới quy định các điều kiện kỹ thuật trong chăn nuôi như môi trường, an toàn sinh học, mật độ chăn nuôi nhưng chưa thiết lập cơ chế điều tiết tổng đàn vật nuôi ở tầm quốc gia và theo từng vùng sinh thái nhằm ổn định cung - cầu thị trường.

Đại biểu phân tích, nhiều năm qua cho thấy, ngành chăn nuôi lợn luôn lặp lại vòng luẩn quẩn "giá cao thì tăng đàn, giá thấp thì giảm đàn", khi giá tăng, nhiều doanh nghiệp và hộ chăn nuôi đồng loạt mở rộng quy mô; đến khi sản phẩm đồng loạt xuất bán lại xảy ra tình trạng dư cung, giá giảm sâu, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và làm mất ổn định thị trường.
Đặc biệt, với sự phát triển của các doanh nghiệp FDI quy mô lớn, chỉ một vài dự án chăn nuôi hàng chục nghìn hoặc hàng trăm nghìn con cũng có thể làm thay đổi đáng kể cán cân cung - cầu của cả một vùng, nhưng Luật hiện chưa có cơ chế đánh giá tác động của việc tăng đàn hoặc cấp phép dự án mới đối với tổng nguồn cung của thị trường.
Do đó, đại biểu đề nghị cần bổ sung trong Luật một nguyên tắc về điều phối tổng đàn vật nuôi theo vùng sinh thái và theo từng ngành hàng. Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết các công cụ điều tiết phù hợp như chỉ tiêu phát triển đàn theo vùng, kiểm soát việc hình thành cơ sở chăn nuôi mới hoặc cơ chế hạn ngạch phát triển quy mô đàn trong từng giai đoạn khi thị trường có nguy cơ dư cung nghiêm trọng.
“Nếu Luật không quy định nguyên tắc này mà chỉ tập trung quản lý điều kiện kỹ thuật của từng cơ sở chăn nuôi thì sẽ tiếp tục thiếu công cụ pháp lý để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng thiếu - thừa tái diễn theo chu kỳ, ảnh hưởng đến người chăn nuôi, doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của ngành”, đại biểu Nguyễn Như So chỉ rõ.