Kinh tế

Nhập siêu lớn có kéo lùi tăng trưởng?

Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê 07/08/2026 07:22

6 tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu hơn 16,65 tỷ USD trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu gần 8 tỷ USD. Nếu tính cả các khoản chi dịch vụ quốc tế như vận tải, bảo hiểm, bản quyền công nghệ..., nhập siêu của toàn nền kinh tế còn lớn hơn. Liệu nhập siêu có kéo lùi tăng trưởng GDP? Nền kinh tế có đang yếu đi khi phải chi hàng chục tỷ USD để mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài?

Vì sao nhập siêu không làm suy giảm GDP?

Để trả lời câu hỏi này một cách thấu đáo, chúng ta cần tách biệt rõ "con số kỹ thuật trên sổ sách kế toán" và "bản chất thực sự của hoạt động sản xuất trong nước".

Cảng Hải Phòng. Nguồn: haiphongport.com.vn
Việt Nam nhập siêu 20,52 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm Nguồn: haiphongport.com.vn

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo phương pháp chi tiêu thường được biểu diễn bằng công thức quen thuộc: GDP = Tiêu dùng cá nhân cuối cùng của hộ gia đình (C) + Chi tiêu Chính phủ (G) + Tích lũy gộp tài sản (I) + Cán cân thương mại ròng (Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ (E) - Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (M)).

Nhìn vào công thức này, khi thấy dấu trừ "-" đặt trước chỉ số Nhập khẩu (M), nhiều người suy luận theo cảm quan toán học: "Nhập khẩu càng nhiều thì phần trừ đi càng lớn, dẫn đến GDP bị giảm mạnh". Từ đó, khi báo cáo thống kê ghi nhận chỉ số "đóng góp của cán cân xuất nhập khẩu ròng vào tăng trưởng" mang dấu âm, người ta dễ kết luận rằng nhập siêu đã trực tiếp làm sụt giảm quy mô kinh tế.

Tuy nhiên, bản chất cốt lõi của GDP (Gross Domestic Product) là đo lường tổng giá trị do các nhà máy, trang trại, doanh nghiệp và người lao động tạo ra bên trong lãnh thổ kinh tế của Việt Nam. Bất kỳ sản phẩm nào do nước ngoài sản xuất thì về mặt nguyên tắc không nằm trong GDP của Việt Nam.

Như vậy, phép trừ nhập khẩu trong công thức GDP không phải là một "hình phạt" làm giảm kinh tế, mà chỉ là một bút toán kế toán nhằm triệt tiêu phần hàng ngoại đã được người dân, doanh nghiệp, nhà nước Tiêu dùng hay sử dụng trong Đầu tư. Bản thân việc mua hàng nhập khẩu, xét riêng lẻ, hoàn toàn không làm tăng cũng không làm giảm sản lượng sản xuất nội địa của Việt Nam.

Việc 90% lượng hàng nhập khẩu rơi vào hai nhóm Chi phí trung gian (60%) và Tích lũy tài sản/Máy móc (30%) cho thấy nền kinh tế đang trong một chu kỳ tích lũy tư liệu sản xuất rất mạnh.

Dưới góc độ Chi phí trung gian (60%): doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện, vải vóc, nguyên liệu để đưa ngay vào dây chuyền sản xuất. Đây là chi phí trực tiếp để các nhà máy tạo ra thành phẩm, chuẩn bị cho các đơn hàng xuất khẩu lớn ở nửa cuối năm 2026.

Dưới góc độ Tích lũy/Đầu tư (30%): Doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, công nghệ mới để mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất dài hạn. Đồng thời, nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất nhưng chưa đưa ngay vào dây chuyền sản xuất sẽ được lưu kho để sẵn sàng cho chu kỳ sản xuất ngay sau đó.

Chính nhờ dòng tư liệu sản xuất nhập khẩu dồi dào này được hấp thụ tốt vào nền kinh tế, GDP của Việt Nam không chỉ đạt mức tăng trưởng cao (8,18%) trong 6 tháng đầu năm mà có thể cao hơn trong chu kỳ sản xuất sau.

Những vấn đề chiến lược của nền kinh tế

Mặc dù không làm giảm GDP, nhưng cấu trúc nhập siêu này phản ánh hai vấn đề chiến lược của nền kinh tế Việt Nam.

Thứ nhất, phần lớn nhập siêu đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Các doanh nghiệp FDI chủ yếu nhập khẩu linh kiện, nguyên vật liệu và máy móc từ chuỗi cung ứng toàn cầu để lắp ráp, sản xuất tại Việt Nam. Tuy tạo ra kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, mối liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế, khiến hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế chưa tương xứng.

Thứ hai, Chi phí trung gian nhập khẩu (60%) bào mòn Giá trị gia tăng nội địa. Trong mô hình Input-Output (I-O), khi tỷ lệ chi phí trung gian nhập khẩu chiếm tới 60% tổng nhập khẩu, phần Giá trị gia tăng do Việt Nam thực sự thu về trên mỗi sản phẩm sẽ bị thu hẹp.

Từ việc phân tích bản chất của cán cân thương mại và hệ thống tài khoản quốc gia, có thể rút ra một số kết luận cốt lõi về bức tranh nhập siêu 6 tháng đầu năm.

Về mặt chỉ số thống kê, con số nhập siêu hàng hóa làm cho hạng mục "Cán cân xuất nhập khẩu ròng" đóng góp một dấu âm vào chỉ số tăng trưởng trên sổ sách. Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng kỹ thuật kế toán, hoàn toàn không có nghĩa là sản lượng sản xuất trong nước bị suy giảm hay GDP bị co hẹp.

Về bản chất sản xuất ngắn hạn, việc 90% hàng nhập khẩu là dành cho Chi phí trung gian (60%) và Tích lũy máy móc (30%) phản ánh một "chu kỳ tích lũy tư liệu sản xuất tích cực". Đây là tín hiệu cho thấy các nhà máy (đặc biệt là khối FDI) đang chạy hết công suất để tạo ra dòng sản phẩm xuất khẩu lớn ở nửa cuối năm 2026.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong 7 tháng đầu năm đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%, còn nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%, đưa mức nhập siêu lên 20,52 tỷ USD.

Doanh nghiệp FDI tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động ngoại thương, đóng góp 80,1% kim ngạch xuất khẩu và gần 73% kim ngạch nhập khẩu, cho thấy khu vực này vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cán cân thương mại của Việt Nam.

Về chiến lược phát triển dài hạn, con số nhập siêu chủ yếu đến từ khối FDI và tỷ trọng 60% chi phí trung gian nhập khẩu là lời nhắc nhở đáng kể về định hướng chuyển dịch mô hình kinh tế.

Theo đó, phải phát triển công nghiệp hỗ trợ nội địa, tăng tỷ lệ nội địa hóa để doanh nghiệp Việt Nam có thể cung ứng nguyên phụ liệu thay thế hàng nhập khẩu. Việc giảm hệ số chi phí trung gian nhập khẩu sẽ giúp gia tăng phần Giá trị gia tăng (VA) giữ lại cho nền kinh tế trên mỗi sản phẩm xuất khẩu.

Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối chuỗi cung ứng FDI - nội địa thông qua việc khuyến khích các tập đoàn FDI chuyển giao công nghệ và sử dụng nhà cung ứng trong nước. Điều này nhằm hạn chế tình trạng khối FDI hoạt động như một "ốc đảo" nhập nguyên liệu từ bên ngoài rồi xuất khẩu thành phẩm, làm giảm hiệu ứng lan tỏa đến GDP thực tế của Việt Nam.

Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê