Đại biểu băn khoăn khả năng cân đối vốn cho hai dự án giao thông trọng điểm
Thảo luận tại Tổ 9 sáng 6/8, ĐBQH đề nghị làm rõ phương án huy động vốn, lộ trình bố trí ngân sách và cơ sở tăng tổng mức đầu tư của dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội và đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Sáng 6/8, Tổ 9 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Hà Tĩnh, Lai Châu) thảo luận về việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh; chủ trương đầu tư dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội và điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Dự án Vành đai 5 Vùng Thủ đô: Chưa rõ nguồn vốn hơn 155.000 tỷ đồng sau năm 2030
Cho ý kiến về chủ trương đầu tư dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, ĐBQH Nguyễn Tuấn Anh (TP. Cần Thơ) bày tỏ băn khoăn về khả năng cân đối nguồn vốn. Theo Tờ trình và hồ sơ dự án, nhu cầu vốn ngân sách trung ương để bồi thường, giải phóng mặt bằng và đầu tư tuyến đường chính khoảng 215.192 tỷ đồng.

Tuy nhiên, trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, Bộ Tài chính mới dự kiến cân đối được 59.700 tỷ đồng, tương đương khoảng 27% nhu cầu vốn, để xây tuyến cao tốc chính. Phần thiếu hụt lên tới khoảng 155.000 tỷ đồng, chiếm hơn 70% tổng nhu cầu.
Đại biểu dẫn quy định của Luật Đầu tư công, theo đó việc quyết định chủ trương đầu tư phải phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn, đồng thời việc bố trí vốn phải bảo đảm đủ để hoàn thành dự án theo tiến độ được phê duyệt.
"Việc trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư khi nguồn vốn thực tế còn thiếu khoảng 72% nhu cầu cần được cân nhắc, làm rõ hơn để tránh nguy cơ dự án không thể triển khai hoặc phải kéo dài tiến độ thực hiện", đại biểu Nguyễn Tuấn Anh đề nghị.
Cùng quan tâm đến tính khả thi của phương án huy động vốn, ĐBQH Bùi Thị Quỳnh Thơ (Hà Tĩnh) cho biết, nhu cầu vốn của dự án sau năm 2030 còn khoảng 155.492 tỷ đồng nhưng chưa xác định được nguồn vốn cụ thể.

Chính phủ đặt mục tiêu hoàn thành dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội trước năm 2035. Theo đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ, việc chưa xác định rõ nguồn vốn cho giai đoạn 2031 - 2035 sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của mục tiêu này. Vì vậy, Chính phủ cần làm rõ nguyên tắc, thứ tự ưu tiên và lộ trình huy động, bố trí nguồn vốn cho giai đoạn tiếp theo nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện, tránh tình trạng dự án kéo dài hoặc đầu tư dở dang.
Đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ cũng lưu ý nguồn vốn ngân sách địa phương dự kiến chiếm hơn 73.000 tỷ đồng, là khoản kinh phí rất lớn. Theo đại biểu, thực tiễn triển khai các dự án đầu tư công thời gian qua cho thấy việc điều chỉnh tổng mức đầu tư vẫn diễn ra khá phổ biến, do đó cần đánh giá kỹ khả năng cân đối nguồn lực của các địa phương.
Đại biểu cũng cho biết, hiện mới có một số địa phương có văn bản cam kết bố trí vốn. Vì vậy, các địa phương còn lại cần sớm rà soát, tính toán và có cam kết cụ thể về khả năng, tiến độ bố trí ngân sách địa phương, bảo đảm đồng bộ với công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và báo cáo Quốc hội trước khi thông qua chủ trương đầu tư dự án.
Dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349 km, đi qua Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ, được chia thành 22 dự án thành phần.
Theo phương án Chính phủ trình, dự án được chuẩn bị từ năm 2026 và bắt đầu thực hiện một năm sau đó. Giai đoạn 2026-2030, khoảng 116 km qua Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng và Bắc Ninh sẽ được ưu tiên đầu tư. Những đoạn được cân đối đủ vốn dự kiến cơ bản hoàn thành năm 2030, khai thác từ năm 2031. Toàn tuyến được đặt mục tiêu hoàn thành trước năm 2035.
Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án hơn 288.200 tỷ đồng, từ ngân sách nhà nước trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và nguồn vốn hợp pháp khác. Riêng giai đoạn 2026-2030, ngân sách trung ương dự kiến bố trí khoảng 59.700 tỷ đồng để xây dựng tuyến cao tốc chính.
Trước mắt, dự án được xác định đầu tư bằng vốn nhà nước. Khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi, cơ quan chức năng sẽ tiếp tục xem xét khả năng thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP); nếu không khả thi thì giữ hình thức đầu tư công.
Dự án cần khoảng 4.011 ha đất, gồm 1.776 ha đất trồng lúa, 465 ha đất ở, 210 ha đất lâm nghiệp và 1.560 ha đất khác.
Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng: Giải trình rõ cơ sở tăng vốn hơn 86.000 tỷ đồng
Đối với dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, dự án được đề xuất điều chỉnh tổng mức đầu tư từ khoảng 203.000 tỷ đồng lên 289.000 tỷ đồng, tăng hơn 86.700 tỷ đồng. Trong đó, chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng tăng khoảng 35.485 tỷ đồng, gần gấp đôi so với phương án trước; chi phí xây lắp và thiết bị tăng khoảng 51.210 tỷ đồng, tương đương 42,7%.
ĐBQH Bùi Thị Quỳnh Thơ (Hà Tĩnh) rằng, cần làm rõ cơ sở của mức điều chỉnh này bởi chiều dài toàn tuyến chỉ tăng khoảng 7 km, trong khi tổng mức đầu tư tăng tới 86.744 tỷ đồng. Mặc dù phương án mới đã bổ sung một số hạng mục như đường điện 22 kV dọc tuyến và hệ thống truyền thông dữ liệu, an ninh mạng, mức tăng vốn vẫn khá lớn và cần được giải trình đầy đủ để làm rõ tính hợp lý của dự án.
Đại biểu cũng chỉ ra một điểm chưa hợp lý khác là tổng nhu cầu sử dụng đất giảm khoảng 556,4 ha, trong đó diện tích phải giải phóng mặt bằng giảm khoảng 644 ha, nhưng chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng lại tăng gần gấp đôi. Vì vậy, hồ sơ cần làm rõ cơ sở điều chỉnh về diện tích thu hồi, số hộ dân bị ảnh hưởng, đơn giá đất, giá trị tài sản trên đất cũng như nguyên nhân làm tăng chi phí bồi thường và các khoản chi phí liên quan.

Đối với chi phí xây lắp và thiết bị tăng 42,7%, đại biểu đề nghị làm rõ suất vốn đầu tư, định mức, đơn giá áp dụng và khối lượng điều chỉnh. Theo đại biểu, các nội dung điều chỉnh cần có sự tương quan hợp lý với phương án đã được phê duyệt, trong khi một số hạng mục hiện có mức tăng đột biến, cần được giải trình rõ để Quốc hội có cơ sở xem xét.
Không chỉ băn khoăn về mức tăng tổng vốn đầu tư, các đại biểu còn đề nghị làm rõ khả năng cân đối và huy động nguồn lực cho dự án.
ĐBQH Nguyễn Tuấn Anh (TP. Cần Thơ) cho rằng, phần giải trình về khả năng cân đối vốn trong Tờ trình và hồ sơ dự án chưa đầy đủ và đủ sức thuyết phục.
Theo hồ sơ, nhu cầu vốn giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 224.000 tỷ đồng, trong khi kế hoạch đầu tư công trung hạn mới bố trí khoảng 148.000 tỷ đồng, còn thiếu khoảng 76.000 tỷ đồng. Phần vốn còn thiếu dự kiến được cân đối từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn chưa phân bổ và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Theo đại biểu, cơ quan soạn thảo cần làm rõ cơ cấu, quy mô, tính sẵn có và căn cứ pháp lý của từng nguồn vốn, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc cân đối nguồn lực để bảo đảm tính khả thi của dự án.

Đại biểu cũng bày tỏ băn khoăn khi dự án dự kiến sử dụng khoảng 197.000 tỷ đồng vốn vay nước ngoài, tương đương 62% tổng mức đầu tư. Trong khi đó, ngay trong Tờ trình, Chính phủ cũng đánh giá dự án đối mặt với nhiều rủi ro như thời gian đàm phán kéo dài, điều kiện vay có thể không còn ưu đãi và các điều kiện ràng buộc khác. Vì vậy, đại biểu đề nghị có phương án chủ động về nguồn vốn để hạn chế các rủi ro có thể phát sinh.
Ngoài ra, hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư bổ sung nhiều hạng mục như đoạn tuyến Yên Viên, các nhánh kết nối, điều chỉnh hướng tuyến từ ga Bắc Hồng đến ga Nam Hải Phòng cùng một số nội dung khác.
Theo đại biểu, đây là những thay đổi lớn liên quan đến phạm vi, quy mô, công nghệ, nhu cầu sử dụng đất và tác động xã hội. Do đó cần có đánh giá tổng thể, đầy đủ hơn để lượng hóa các tác động và bảo đảm tính khả thi của dự án, tránh tình trạng chậm tiến độ hoặc phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.
Chính phủ đề xuất tăng vốn tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng từ 203.200 tỷ lên 289.300 tỷ đồng, tăng 86.100 tỷ đồng so với mức được Quốc hội phê duyệt năm 2025. Việc tăng vốn do cập nhật phạm vi, quy mô, khối lượng, đơn giá, tỷ giá và các chính sách liên quan.
Trong số vốn tăng thêm, chi phí xây lắp và thiết bị chiếm hơn 51.200 tỷ đồng. Khoản này chủ yếu dành cho việc đầu tư đường đôi từ ga Bắc Hồng đến ga Nam Hải Phòng, bổ sung đoạn Yên Viên - Gia Lâm, cải tạo ga Gia Lâm, kết nối với các tuyến đường sắt hiện hữu và điều chỉnh thiết kế theo quy hoạch mới của địa phương.
Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tăng khoảng 34.800 tỷ đồng. Chi phí quản lý dự án, tư vấn và các khoản khác tăng 160 tỷ đồng, trong khi dự phòng giảm 110 tỷ đồng.