Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan: Phải tạo thuận lợi thực chất cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, các đại biểu đề nghị, sửa đổi luật không chỉ nhằm tăng cường quản lý nhà nước mà còn phải tạo thuận lợi thực chất cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, cần bảo đảm 3 yêu cầu: quản lý bằng dữ liệu nhưng phải minh bạch; ứng dụng công nghệ nhưng phải gắn với trách nhiệm; cải cách thủ tục nhưng phải đo được mức giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Cần quy định rõ thời hạn kiểm định và ban hành kết quả
Cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, ĐBQH Nguyễn Hoàng Giang (Đắk Lắk) nhấn mạnh, sửa đổi luật không chỉ nhằm tăng cường quản lý nhà nước mà còn phải tạo thuận lợi thực chất cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Dự án Luật vì vậy cần bảo đảm ba yêu cầu: quản lý bằng dữ liệu nhưng phải minh bạch; ứng dụng công nghệ nhưng phải gắn với trách nhiệm; cải cách thủ tục nhưng phải đo được mức giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Phân tích các nội dung cụ thể của dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang nhận thấy, Điều 16b của dự thảo Luật quy định người khai hải quan có quyền lựa chọn tổ chức đánh giá lại kết quả kiểm định.
Tuy nhiên, theo đại biểu, nếu cơ quan hải quan không đồng ý với kết quả đánh giá lại thì cơ quan hải quan tiếp tục lựa chọn đơn vị đánh giá bổ sung. Quy định này có thể chưa bảo đảm đầy đủ tính khách quan, vì một bên vừa không chấp nhận kết quả, vừa có quyền lựa chọn tổ chức đánh giá tiếp theo.
Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định rõ tiêu chí kiểm định, thời hạn, chi phí và giá trị pháp lý của từng kết quả. Trường hợp có bất đồng, đơn vị đánh giá bổ sung phải do hai bên thống nhất lựa chọn hoặc được lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách công khai.
Đối với quy định về thương mại điện tử và hồ sơ hải quan tại Điều 16a và Điều 24, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang đề nghị, cần phân định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng thương mại điện tử, doanh nghiệp vận chuyển, chủ hàng và đại lý làm thủ tục hải quan.
Chủ quản nền tảng chỉ nên chịu trách nhiệm trong phạm vi thông tin, dữ liệu mình quản lý; chỉ thực hiện nghĩa vụ của người khai hải quan khi là chủ hàng hoặc được chủ hàng ủy quyền.
Đồng thời, theo đại biểu cần thực hiện nguyên tắc một lần khai báo, một lần xác thực. Cơ quan hải quan không được yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin, giấy phép và chứng từ đã có trên Cơ chế một cửa quốc gia hoặc trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước.
ĐBQH Tráng A Dương (Lào Cai) cũng cho rằng, quy định về kiểm định hải quan tại Điều 16b chưa quy định rõ thời hạn kiểm định, thời hạn ban hành kết quả, trách nhiệm của cơ quan kiểm định cũng như trình tự xử lý khi có yêu cầu đánh giá lại. Đây là những nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian thông quan, chi phí của doanh nghiệp và tính minh bạch, tránh dàn trải của cơ quan nhà nước.

Do vậy, đại biểu đề nghị bổ sung Điều 16B các nguyên tắc về thời hạn thực hiện kiểm định, trách nhiệm của cơ quan kiểm định và trình tự xử lý khi có yêu cầu đánh giá lại. Trường hợp giao Chính phủ quy định chi tiết thì cần xác định rõ phạm vi được giao để đảm bảo tính thống nhất và khả năng tổ chức trong quá trình thực hiện.
Cùng với đó, đại biểu Tráng A Dương nêu thực tế, các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn còn gặp nhiều khó khăn về hạ tầng số và kỹ năng số. Đồng thời, đề nghị bổ sung tại Điều 24 quy định theo hướng việc xây dựng và vận hành hệ thống hải quan số phải đảm bảo năng lực tiếp cận bình đẳng giữa các vùng, miền, ưu tiên, cũng như có giải pháp hỗ trợ đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cân nhắc cho phép hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được làm đại lý thủ tục hải quan
ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) nhận thấy, Điều 79 của dự thảo Luật đã sửa đổi thời hạn kiểm tra sau thông quan từ 10 ngày làm việc lên tối đa 20 ngày, có thể gia hạn thêm một lần không quá 20 ngày - tổng cộng tới 40 ngày, để phù hợp với thời hạn kiểm tra thuế tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/ QH15, cũng như với tinh thần quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ được quy định tại các Điều 17 và 17a của dự thảo Luật.

Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, hiệu quả thực chất của việc kéo dài thời hạn kiểm tra phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực khai thác, phân tích dữ liệu của cơ quan hải quan trong khoảng thời gian này. Nguồn dữ liệu cần được kết nối, khai thác đồng bộ gồm dữ liệu khai báo hải quan, dữ liệu thuế, dữ liệu ngân hàng và dữ liệu định danh giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới.
Theo đại biểu, nếu hạ tầng kết nối giữa các hệ thống chưa hoàn thiện thì việc kéo dài thời hạn lên 40 ngày sẽ không giúp nâng cao chất lượng kết luận kiểm tra mà có thể khiến doanh nghiệp kéo dài tình trạng "treo" kết quả kiểm tra.
Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ cũng lưu ý cần phân biệt rõ giữa đánh giá về "nguồn lực cơ bản bảo đảm" về ngân sách, nhân lực, với mức độ sẵn sàng của hạ tầng kết nối dữ liệu liên thông - một hạng mục kỹ thuật có tiến độ và mốc hoàn thành riêng. Đại biểu dẫn nội dung Báo cáo thẩm tra đã đề nghị quy định rõ trong nghị định cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu định danh điện tử giữa hệ thống hải quan và Bộ Công an. Đây là hạ tầng liên ngành quan trọng, có vai trò quyết định đối với hoạt động hậu kiểm, nhất là trong lĩnh vực thương mại điện tử xuyên biên giới, nên cần được theo dõi tiến độ riêng, không thể mặc nhiên coi là đã sẵn sàng.

Cùng với đó, đại biểu Nguyễn Khánh Vũ cũng nêu rõ, nếu Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027 nhưng hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ, có thể phát sinh nhiều hệ quả. Đối với doanh nghiệp, thời hạn tối đa 40 ngày có nguy cơ trở thành mức áp dụng phổ biến thay vì chỉ dành cho các trường hợp phức tạp, làm kéo dài thời gian chờ kết luận kiểm tra, ảnh hưởng đến dòng tiền và các giao dịch xuất nhập khẩu tiếp theo.
Đối với cơ quan quản lý, việc thiếu công cụ dữ liệu sẽ buộc cán bộ quay lại phương thức kiểm tra thủ công, làm giảm hiệu quả cải cách hậu kiểm và có thể dẫn tới tình trạng quy trình kéo dài nhưng hiệu quả chưa tương xứng, đồng thời tạo ra sự thiếu thống nhất trong áp dụng thời hạn kiểm tra giữa các địa phương.
Từ những phân tích trên, đại biểu Nguyễn Khánh Vũ đề nghị bổ sung quy định giao Chính phủ báo cáo Quốc hội về tiến độ hoàn thành các hạng mục hạ tầng dữ liệu cốt lõi phục vụ thi hành Luật, trong đó nêu rõ mốc hoàn thành cơ chế liên thông dữ liệu định danh trước thời điểm Luật có hiệu lực. Đồng thời, quy định cơ chế đánh giá độc lập, định kỳ mức độ sẵn sàng của hạ tầng dữ liệu, không chỉ dựa trên báo cáo tự đánh giá như đề xuất của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Chỉ rõ việc sửa đổi bổ sung Điều 20 của Luật Hải quan về đại lý làm thủ tục hải quan về cơ bản không thay đổi so với luật hiện hành, ĐBQH Vũ Tuấn Anh (Phú Thọ) đề nghị, cân nhắc mở rộng các loại hình khác được làm đại lý làm thủ tục hải quan khi đáp ứng điều kiện nhất định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trong đó có hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Bởi, theo đại biểu, Luật Quản lý thuế đã quy định bên cạnh đại lý thuế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế từ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục về thuế khác thay cho người nộp thuế.
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã giải trình, làm rõ các nội dung được đại biểu quan tâm cho ý kiến.