Diễn đàn Quốc hội

Bảo đảm công tác hoà giải ở cơ sở phù hợp với thực tiễn

P. Thủy - T. Chi - H. Ngọc - M. Trang ghi 05/08/2026 16:24

Thảo luận tại Tổ về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở sáng 5/8, nhiều ĐBQH đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về bảo đảm kinh phí, chế độ đối với hòa giải viên, làm rõ hơn về điều kiện, trình tự tiến hành hòa giải trực tuyến, cơ chế bầu chọn hòa giải viên phù hợp với thực tiễn, đồng thời phát huy vai trò của chức sắc, chức việc tôn giáo trong công tác hòa giải ở cơ sở.

20260805-t8-1.jpg
Quang cảnh thảo luận Tổ 8. Ảnh: Phạm Thắng

ĐBQH Leo Thị Lịch (Bắc Ninh):
Quy định rõ mức kinh phí tối thiểu từ ngân sách nhà nước giành cho hòa giải ở cơ sở

Về kinh phí bảo đảm cho công tác hòa giải ở cơ sở, dự thảo luật đã chuyển hướng từ “hỗ trợ” sang “bảo đảm” và quy định ngân sách Trung ương hỗ trợ địa phương nếu địa phương chưa cân đối được ngân sách. Đây là bước tiến mới và quan trọng, nhưng cần xem xét về tính khả thi của nguồn lực, đặc biệt là sau khi sắp xếp thôn, tổ dân phố, địa bàn hiện nay rất rộng, số lượng vụ việc tăng lên.

ĐBQH Leo Thị Lịch (Bắc Ninh). Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Leo Thị Lịch (Bắc Ninh). Ảnh: Phạm Thắng

Tôi đề nghị bổ sung quy định rõ mức kinh phí tối thiểu từ ngân sách nhà nước dành cho công tác này và cần có một quy định khung giao cho Chính phủ để thực hiện chỉ đạo. Đồng thời, quy định rõ chế độ thù lao theo vụ việc cho hòa giải viên và người được mời tham gia, bảo đảm tương xứng với công sức thực tế, tránh tình trạng làm việc không công ở cơ sở như trước kia, dẫn đến thiếu động lực tham gia.

Dự thảo Luật khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và hoà giải trực tuyến, song nhiều quy định còn chung chung, dễ phát sinh vướng mắc về pháp lý khi thực hiện. Đề nghị bổ sung, làm rõ hơn về điều kiện, trình tự tiến hành hòa giải trực tuyến, giá trị pháp lý của hồ sơ, biên bản điện tử, phương thức xác thực danh tính các bên và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, lưu trữ hồ sơ; giao Chính phủ tiếp tục tích hợp cơ sở dữ liệu về hòa giải ở cơ sở vào hệ thống dữ liệu cấp xã để dùng chung, tránh đầu tư dàn trải và lãng phí kinh phí.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng):
Bảo đảm thống nhất pháp luật, tính khả thi và bảo mật thông tin

Khoản 2 Điều 1 dự thảo Luật về phạm vi điều chỉnh, trong đó, loại trừ “hoạt động hòa giải được luật khác quy định”. Việc loại trừ này quá rộng, bởi lẽ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình đều có điều khoản quy định về hòa giải ở cơ sở. Hiểu theo câu chữ thì chính những vụ việc phổ biến nhất lại nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật này. Do vậy, đề nghị sửa thành: “hoạt động hòa giải khác được luật khác quy định về trình tự, thủ tục riêng”.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) phát biểu
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng). Ảnh: Lâm Hiển

Về ngưỡng bầu hòa giải viên, quy định trong dự thảo Luật sẽ rất khó đạt do quy mô thôn sau sáp nhập đơn vị hành chính tăng lên rất nhiều, sẽ dẫn đến việc phải bầu lại, bầu bổ sung, rồi chỉ định. Chỉ định vốn là ngoại lệ sẽ thành phổ biến, trái với chính quan điểm “hạn chế tối đa hành chính hóa” trong Tờ trình. Thêm nữa, khoản 2 Điều 8 dự thảo Luật cho phép bầu tại từng cụm dân cư, nhưng khoản 3 lại tính tỷ lệ trên toàn thôn. Hai khoản này không khớp nhau. Do vậy, đề nghị tính ngưỡng theo đơn vị tổ chức bầu, hoặc lấy tiêu chí “trên 50% số đại diện hộ gia đình tham gia bầu” thay vì trên tổng số hộ.

Về bảo mật (khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật), Tờ trình xác định một bất cập lớn là các bên e ngại, không dám chia sẻ thông tin, nhưng dự thảo Luật mới chỉ mở rộng phạm vi bí mật ở phần nguyên tắc và chỉ ràng buộc hòa giải viên, không ràng buộc các bên. Dự thảo Luật hiện không có chế tài, cũng không có quy định thông tin chia sẻ trong hòa giải thì không được dùng làm chứng cứ chống lại nhau ở tòa sau này. Do đó, đề nghị bổ sung một điều riêng về bảo mật, ràng buộc mọi người tham gia và giới hạn việc sử dụng thông tin hòa giải.

ĐBQH Chamaléa Thị Thủy (Khánh Hòa):
Xác định số lượng hòa giải viên tối thiểu tương ứng với quy mô thôn, tổ dân phố sau sáp nhập

Hòa giải viên ở cơ sở phần lớn là người cao tuổi, có uy tín trong cộng đồng và đây cũng là nhóm gặp nhiều rào cản nhất trong tiếp cận công nghệ. Nếu không có cơ chế hỗ trợ tập huấn, trang bị phương tiện cụ thể, đặc biệt cho hòa giải viên tại các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quy định về "ứng dụng trí tuệ nhân tạo" rất dễ trở thành hình thức, chỉ áp dụng được ở những địa bàn có điều kiện. Tôi đề nghị bổ sung một khoản quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc bảo đảm nguồn lực tập huấn công nghệ cho hòa giải viên tại địa bàn khó khăn, tránh tạo ra khoảng cách số ngay trong chính lực lượng nòng cốt của công tác hòa giải.

Tổ 4 (Khánh Hòa, Huế, Lào Cai)/DBQH Chamalea Thị Thủy (Khánh Hòa)
ĐBQH Chamaléa Thị Thủy (Khánh Hòa). Ảnh: Hồ Long

Về số lượng hòa giải viên tối thiểu, khoản 1 Điều 14 dự thảo Luật quy định mỗi tổ hòa giải có từ 3 hòa giải viên trở lên, đây là ngưỡng được giữ nguyên từ Luật hiện hành. Song, quy mô thôn, tổ dân phố sau sáp nhập theo Kết luận 34-KL/TW đã tăng lên đáng kể. Với một tổ dân phố có thể lên đến vài nghìn hộ dân, việc duy trì ngưỡng tối thiểu "từ 3 người trở lên" (vốn được thiết kế cho quy mô thôn, tổ dân phố nhỏ trước đây) có nguy cơ khiến hòa giải viên bị quá tải, không thể bao quát hết địa bàn.

Vì vậy, đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định số lượng hòa giải viên tối thiểu tương ứng với quy mô dân số của thôn, tổ dân phố sau sáp nhập, giao Chính phủ quy định cụ thể theo hướng lũy tiến theo dân số, thay vì áp dụng một ngưỡng cứng cho mọi địa bàn như hiện nay.

ĐBQH Thượng tọa Thích Đức Thiện (Điện Biên):
Cần có cơ chế pháp lý huy động chức sắc, chức việc tôn giáo tham gia hòa giải ở cơ sở

Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) đã bổ sung quy định về người được mời tham gia hòa giải, trong đó có già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc và người có uy tín trong dòng họ. Đây là điểm mới so với Luật năm 2013, góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý để phát huy nguồn lực xã hội trong công tác hòa giải. Tuy nhiên, tôi đề nghị quy định rõ là "chức sắc, chức việc tôn giáo" nhằm bảo đảm đầy đủ và thống nhất.

ĐBQH Thích Đức Thiện (Điện Biên) phát biểu
ĐBQH Thích Đức Thiện (Điện Biên). Ảnh: Lâm Hiển

Trước hết, cần xác định chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người có uy tín trong các tổ chức tôn giáo là một trong những nguồn nhân sự để lựa chọn hòa giải viên ở cơ sở. Đây không phải là quy định mang tính bắt buộc mà là cơ chế khuyến khích, giúp địa phương chủ động huy động những người có uy tín, được cộng đồng tín nhiệm tham gia công tác hòa giải. Quy định này cũng sẽ khắc phục tâm lý e ngại, lúng túng của một số địa phương khi mời chức sắc tôn giáo tham gia các công việc xã hội.

Bên cạnh đó, cần bổ sung cơ chế mời chức sắc, chức việc tôn giáo tham gia hòa giải đối với từng vụ việc cụ thể. Đối với các tranh chấp liên quan đến cộng đồng có đông tín đồ hoặc những vụ việc mà các bên cùng đề nghị, tổ hòa giải hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có thể mời chức sắc tôn giáo tham gia với tư cách người hỗ trợ hòa giải. Cơ chế này vừa phát huy được uy tín của chức sắc, vừa bảo đảm tính linh hoạt, không làm thay đổi tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải.

Để bảo đảm chất lượng và tính khách quan, dự thảo Luật cũng cần quy định rõ tiêu chuẩn đối với chức sắc, chức việc tôn giáo khi tham gia hòa giải. Theo đó, ngoài các tiêu chuẩn chung của hòa giải viên, người tham gia phải là chức sắc, chức việc hoặc nhà tu hành hợp pháp của tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, có uy tín trong cộng đồng, am hiểu phong tục, tập quán địa phương, có khả năng thuyết phục, đối thoại và vận động quần chúng; đồng thời tôn trọng Hiến pháp, pháp luật, không lợi dụng hoạt động hòa giải để thực hiện các hoạt động ngoài mục đích hòa giải.

P. Thủy - T. Chi - H. Ngọc - M. Trang ghi