Không hành chính hóa hoạt động hòa giải ở cơ sở
Thảo luận tại Tổ 3 (Thanh Hóa, Tây Ninh) sáng 5/8 về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), các ĐBQH đề nghị không quy định cứng thành phần tổ hòa giải, mà phải tạo cơ chế linh hoạt để huy động đúng người, phù hợp với từng vụ việc. Các đại biểu cũng tập trung làm rõ cơ chế Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành và yêu cầu bảo đảm kinh phí tương xứng với thời gian, công sức của hòa giải viên.
.jpg)
Không nên quy định cứng thành phần tổ hòa giải
ĐBQH Triệu Thế Hùng (Thanh Hóa) cho rằng, bản chất của hòa giải ở cơ sở là phát huy tinh thần đoàn kết, tăng cường dân chủ, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự và những giá trị văn hóa tốt đẹp trong quan hệ làng xóm, khu dân cư. Đây là thiết chế mang đậm tính cộng đồng, dựa nhiều vào tình cảm, sự tín nhiệm và ảnh hưởng của những người có uy tín trong Nhân dân.
Tuy nhiên, theo đại biểu, một số quy định trong dự thảo Luật còn mang tính hành chính hóa. Việc liệt kê quá cụ thể các thành phần, đối tượng tham gia hòa giải có thể vẫn không bao quát hết những tình huống rất đa dạng phát sinh trong thực tế.
.jpg)
Khi xảy ra mâu thuẫn tại khu dân cư, những người đầu tiên thường được mời tham gia hòa giải có thể là tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản, người có uy tín hoặc người đứng đầu các tổ chức hội, đoàn thể. Tùy tính chất của từng vụ việc, có thể cần đến sự tham gia của đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh hoặc những tổ chức có ảnh hưởng trong cộng đồng.
Vì vậy, ĐBQH Triệu Thế Hùng đề nghị dự thảo Luật được thiết kế theo hướng mở, tạo điều kiện lựa chọn người phù hợp với nội dung và hoàn cảnh của từng vụ việc, thay vì quy định quá cứng về thành phần tham gia tổ hòa giải.
Cùng quan điểm này, ĐBQH Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) cho rằng, hoạt động hòa giải ở cơ sở diễn ra rất đa dạng, không thể áp dụng một cách thức cứng nhắc cho tất cả các vụ việc. Theo đại biểu, tổ hòa giải có thể gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, nhưng khi tiến hành hòa giải không nhất thiết tất cả các thành viên đều phải có mặt. Tùy theo tính chất từng vụ việc, có thể chỉ cần một hoặc hai hòa giải viên, đồng thời mời thêm người có uy tín, già làng, chức sắc tôn giáo hoặc người phù hợp tham gia.
.jpg)
Việc hòa giải cũng không nhất thiết phải được tiến hành thông qua một cuộc họp chính thức. Trong thực tế, hòa giải viên có thể đến nhà các bên, gặp gỡ, trò chuyện trong không khí gần gũi và chỉ qua một số lần trao đổi đã có thể giúp các bên tháo gỡ mâu thuẫn.
ĐBQH Lương Thị Hoa đề nghị dự thảo Luật quan tâm đầy đủ hơn đến vai trò của chức sắc, chức việc tôn giáo. Tại nhiều địa phương có đông đồng bào theo tôn giáo, lực lượng này có vai trò quan trọng trong vận động, thuyết phục người dân và tham gia giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng. Do đó, Luật cần bảo đảm khả năng huy động những người phù hợp với từng vụ việc, thay vì giới hạn cứng thành phần tham gia hòa giải.
.jpg)
Tiếp cận từ quy trình lựa chọn thành viên của tổ hòa giải, ĐBQH Lê Thanh Hoàn (Thanh Hóa) đề nghị xem xét lại việc tổ chức bầu hòa giải viên. Theo đại biểu, thành viên của các tổ hòa giải thường là đại diện Ban Công tác Mặt trận, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở. Đây đều là những người đã được cộng đồng tín nhiệm, lựa chọn hoặc được tổ chức của mình giới thiệu.
.jpg)
Vì vậy, cần cân nhắc có nhất thiết phải tiếp tục tổ chức một quy trình bầu riêng đối với tất cả thành viên tổ hòa giải hay không. Có thể nghiên cứu giao thành viên của các tổ chức này tham gia tổ hòa giải, đồng thời lựa chọn hoặc chỉ định thêm một số người có uy tín trong cộng đồng khi cần thiết.
ĐBQH Vũ Tiến Dũng (Thanh Hóa) cũng đề nghị xác định rõ hơn vai trò tham gia của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân và các tổ chức có liên quan. Theo đại biểu, các tổ chức này có đoàn viên, hội viên là những đối tượng cụ thể trong hoạt động hòa giải. Việc tham gia hòa giải cũng là hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, đồng thời phát huy thế mạnh của từng tổ chức trong công tác tuyên truyền, vận động tại cộng đồng.
.jpg)
ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) cho rằng, chỉ định hòa giải viên là cơ chế cần thiết để xử lý những trường hợp đặc biệt, khi không thể tổ chức bầu hoặc không bầu đủ số lượng. Tuy nhiên, Luật cần khẳng định rõ chỉ định chỉ là trường hợp ngoại lệ, còn lựa chọn thông qua bầu từ cộng đồng vẫn phải là nguyên tắc.
_watermarked.jpg)
Đồng thời, cần quy định rõ thời hạn tham gia của người được chỉ định và quyền của các bên trong việc yêu cầu thay đổi hòa giải viên nếu có căn cứ cho rằng người đó không bảo đảm tính khách quan. Theo đại biểu, hòa giải viên có thể được chỉ định về mặt tổ chức, nhưng niềm tin của người dân thì không thể chỉ định.
Làm rõ cơ chế Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành
Đối với quy định Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, các đại biểu thống nhất rằng đây là cơ chế có thể nâng cao giá trị pháp lý và khả năng thực hiện thỏa thuận, nhưng phải bảo đảm đơn giản, tự nguyện và phù hợp với bản chất của hòa giải ở cơ sở.
ĐBQH Trần Thế Kính (Thanh Hóa) cho rằng, dự thảo Luật cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành.
_watermarked.jpg)
Theo đại biểu, pháp luật tố tụng dân sự đã có quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, nhưng việc triển khai trên thực tế còn khó khăn, số trường hợp yêu cầu và được công nhận còn hạn chế. Nếu Luật chỉ quy định quyền yêu cầu công nhận mà không xác định rõ cơ chế hỗ trợ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan thì quy định có thể khó đi vào cuộc sống. Do đó, ĐBQH Trần Thế Kính đề nghị bổ sung rõ hơn trách nhiệm của ngành Tư pháp và các cơ quan liên quan trong việc hướng dẫn, hỗ trợ các bên thực hiện thủ tục.
Chung quan điểm trên, ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Tây Ninh) cho biết, tại địa phương chưa có trường hợp hòa giải thành ở cơ sở nào được Tòa án công nhận. Nguyên nhân là hồ sơ hòa giải chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về trình tự, nội dung và chứng cứ, trong khi cấp cơ sở lại chưa được hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, ngành Tòa án cần phối hợp hướng dẫn chi tiết về quy trình, thành phần hồ sơ để kết quả hòa giải ở cơ sở có thể được công nhận và có giá trị thi hành.
.jpg)
Đại biểu cũng đề nghị huy động luật sư, luật gia hoặc những người có chuyên môn pháp lý tự nguyện tham gia hòa giải. Sự tham gia của lực lượng này sẽ giúp trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn và tạo thuận lợi cho việc yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Bên cạnh đó, ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung chỉ ra rằng cơ chế theo dõi sau hòa giải vẫn chưa rõ. Có trường hợp được báo cáo là hòa giải thành nhưng sau đó một hoặc các bên thay đổi ý kiến, trong khi chưa có quy định cụ thể về việc tiếp tục hòa giải hoặc xử lý vụ việc như thế nào.
Thảo luận tại tổ, các ĐBQH tỉnh Tây Ninh và Thanh Hóa cũng nhấn mạnh việc không nên tư pháp hóa mọi kết quả hòa giải. Những mâu thuẫn về tình cảm, gia đình và xóm giềng vẫn nên để các bên tự nguyện thực hiện. Đối với những thỏa thuận xác lập rõ quyền và nghĩa vụ dân sự, có thể áp dụng cơ chế công nhận khi các bên có yêu cầu. Thủ tục công nhận cũng phải thực sự đơn giản. Nếu người dân phải trải qua một quy trình gần giống như khởi kiện thì lợi thế của hòa giải sẽ giảm đi rất nhiều.
.jpg)
Các đại biểu cũng nêu thực tế, ngay cả khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án, tranh chấp vẫn có thể tiếp tục phát sinh. Vì vậy, Luật cần tiếp tục đề cao quyền tự quyết và sự tự nguyện của người dân, tránh làm cho hòa giải trở nên nặng về thủ tục hoặc mang tính bắt buộc.
Theo đó, các đại biểu đề nghị bổ sung trách nhiệm của hòa giải viên trong việc giải thích để các bên hiểu quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, thời hạn thực hiện yêu cầu và hậu quả pháp lý của quyết định công nhận. Việc cung cấp đầy đủ thông tin ngay sau khi hòa giải thành sẽ giúp người dân tiếp cận cơ chế này thuận lợi hơn, đồng thời hạn chế tình trạng các bên đã thống nhất nhưng sau đó nhanh chóng thay đổi ý kiến.
Kinh phí phải phản ánh đúng công sức và hiệu quả hòa giải
Về kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, các đại biểu tán thành việc dự thảo Luật chuyển từ quy định ngân sách nhà nước “hỗ trợ” sang “bảo đảm” kinh phí. Tuy nhiên, cơ chế chi trả cần được thiết kế hợp lý, minh bạch và không chỉ căn cứ vào số vụ hòa giải thành.
ĐBQH Triệu Thế Hùng (Thanh Hóa) thống nhất với định hướng Nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Theo đại biểu, sự thay đổi này sẽ giúp hoạt động hòa giải được quan tâm, tăng cường và triển khai đồng đều hơn giữa các địa phương.
Đại biểu cũng đồng tình với việc bố trí kinh phí cho công tác hướng dẫn nghiệp vụ, bồi dưỡng kỹ năng, sơ kết, tổng kết và khen thưởng. Tuy nhiên, đối với cơ chế chi theo từng vụ việc, nhất là gắn với kết quả hòa giải thành, cần được nghiên cứu thận trọng. Số lượng vụ việc hòa giải nhiều không hẳn là một thành tích, bởi điều đó cũng có thể phản ánh địa bàn phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất ổn. Một vụ việc được xác định là hòa giải thành tại thời điểm này nhưng sau đó các bên vẫn có thể tiếp tục phát sinh tranh chấp.
“Nếu kinh phí được chi ngay theo từng vụ hòa giải thành thì cần làm rõ cách xử lý khi mâu thuẫn tái diễn. Dự thảo cũng phải xác định một vụ việc phát sinh trở lại được tính là vụ việc mới hay là sự tiếp diễn của vụ việc đã hòa giải trước đó. Ban soạn thảo cần tính toán kỹ cơ chế chi trả, tránh chỉ dựa vào số vụ việc hoặc kết quả hòa giải thành tại một thời điểm mà chưa phản ánh được hiệu quả bền vững của hoạt động hòa giải” - đại biểu Triệu Thế Hùng nhấn mạnh.
ĐBQH Cao Mạnh Linh (Thanh Hóa) cũng cho rằng việc lấy tỷ lệ hòa giải thành làm căn cứ chính để xác định mức hỗ trợ chưa phản ánh đầy đủ tính chất và công sức của hòa giải viên.
.jpg)
Có những vụ việc đơn giản, dễ đạt được thỏa thuận nhưng mức hỗ trợ lại cao; trong khi một số vụ việc rất phức tạp, hòa giải viên phải dành nhiều thời gian, công sức nhưng cuối cùng không hòa giải thành thì mức hỗ trợ có thể thấp hơn.
Việc quá coi trọng kết quả hòa giải thành cũng có thể tạo ra áp lực không cần thiết, thậm chí làm phát sinh tình trạng các bên thỏa thuận hình thức để vụ việc được ghi nhận là hòa giải thành.
Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế chi trả có tính đến thời gian, mức độ phức tạp của vụ việc, công sức thực tế của hòa giải viên và kết quả đạt được. Mặc dù việc xây dựng một khung tiêu chí cụ thể có thể khó khăn, nhưng mức hỗ trợ cần phản ánh tương đối đúng tính chất của từng vụ việc.
.jpg)
ĐBQH Chu Mạnh Hùng (Tây Ninh) hoan nghênh việc chuyển từ cơ chế ngân sách nhà nước “hỗ trợ” sang “bảo đảm” kinh phí, bởi các vụ việc hòa giải ở cơ sở thường tiêu tốn nhiều thời gian và công sức.
Tuy nhiên, bên cạnh ngân sách nhà nước, dự thảo còn quy định nguồn kinh phí hỗ trợ từ cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo đại biểu, việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí này phải hết sức minh bạch, khách quan.
Cần tránh tình trạng hỗ trợ kinh phí đi kèm những mục đích thiếu trong sáng, ảnh hưởng đến tính công tâm của hòa giải viên cũng như hiệu quả và tính bền vững của kết quả hòa giải. Vì vậy, Chính phủ cần quy định chi tiết, chặt chẽ việc quản lý, sử dụng cả kinh phí ngân sách và nguồn kinh phí do tổ chức, cá nhân hỗ trợ.
Từ các ý kiến tại phiên thảo luận, các đại biểu đề nghị việc sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở phải tiếp tục giữ được bản chất tự nguyện, mềm dẻo, gần dân và dựa vào uy tín cộng đồng. Thành phần tham gia cần được quy định theo hướng mở; cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành phải đơn giản, phù hợp với nhu cầu của các bên; kinh phí phải được bảo đảm tương xứng với tính chất, mức độ phức tạp và công sức thực tế của người tham gia hòa giải.