Bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Sáng 5/8, thảo luận tại Tổ 14 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Đồng Tháp, Quảng Ninh) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các ĐBQH đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc trong quản lý doanh nghiệp, bảo đảm hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phát triển an toàn, bền vững.
.jpg)
Hoàn thiện cơ chế đào tạo, quản lý để nâng tầm giá trị lao động Việt Nam ở nước ngoài
Đánh giá cao dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã định hướng chuyển từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài; ưu tiên những lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề..., ĐBQH Nguyễn Thanh Cầm (Đồng Tháp) cho rằng, đây là bước chuyển quan trọng nhằm nâng cao giá trị nguồn nhân lực Việt Nam, đồng thời gia tăng hiệu quả đóng góp của hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Từ thực tiễn triển khai chính sách thời gian qua, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm cho rằng cần quan tâm hơn nữa đến giai đoạn sau khi người lao động hoàn thành hợp đồng trở về nước. Do đó, đại biểu đề nghị dự thảo luật cần nghiên cứu bổ sung cơ chế công nhận, quy đổi các chứng chỉ, kỹ năng nghề và kinh nghiệm làm việc mà người lao động tích lũy được trong môi trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để họ tiếp tục tham gia thị trường lao động trong nước khi lao động trở về nước.

Đặc biệt, đối với lao động nữ có trình độ, tay nghề, đại biểu đề nghị nghiên cứu chính sách hỗ trợ phù hợp sau khi trở về như ưu tiên tiếp cận việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp, đào tạo nâng cao hoặc kết nối với các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng. Đây không chỉ là giải pháp bảo đảm quyền lợi người lao động mà còn góp phần khai thác hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo, rèn luyện trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị bổ sung vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với việc thực hiện chính sách đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Đồng tình với ý kiến trên, song ĐBQH Chu Lương Trí (Quảng Ninh) cũng cho rằng, thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song cũng bộc lộ không ít hạn chế cần được giải quyết thông qua việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật.
.jpg)
Theo đại biểu, hiện có hơn 1 triệu người Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài, tập trung tại nhiều thị trường như Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Nam Phi, Israel... " Đây là lĩnh vực mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét khi không đòi hỏi nguồn đầu tư lớn từ ngân sách nhà nước, không tạo áp lực về môi trường, đồng thời góp phần bổ sung nguồn ngoại tệ, nâng cao thu nhập cho người dân và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực"- đại biểu nhấn mạnh.
Vì vậy, đại biểu đề nghị việc sửa đổi luật cần hướng tới việc thể chế hóa đầy đủ hơn vai trò, vị trí của hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, đại biểu Chu Lương Trí cho rằng, một trong những vấn đề cần được quan tâm là khả năng tiếp cận thông tin của người lao động. Bởi, phần lớn người lao động đi làm việc ở nước ngoài xuất thân từ khu vực nông thôn, miền núi, nơi cơ hội việc làm trong nước còn hạn chế. Tuy nhiên, nhiều người chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về điều kiện làm việc, quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp tại quốc gia tiếp nhận lao động.
Theo đại biểu, tâm lý chung của nhiều người lao động hiện nay là tập trung vào chi phí phải đóng cho doanh nghiệp môi giới và mức thu nhập dự kiến, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến những yếu tố quan trọng khác như loại hình công việc, môi trường làm việc, chế độ bảo hiểm, quyền được bảo vệ khi gặp khó khăn. Điều này khiến người lao động dễ rơi vào tình trạng bị động, gặp rủi ro trong quá trình làm việc ở nước ngoài.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị dự thảo luật cần bổ sung, hoàn thiện các quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, phổ biến pháp luật cho người lao động trước khi xuất cảnh; đồng thời tăng cường cơ chế hỗ trợ, bảo vệ người lao động trong suốt thời gian làm việc ở nước ngoài.
.jpg)
Một vấn đề khác được đại biểu Chu Lương Trí chỉ ra là chất lượng đào tạo nguồn lao động trước khi xuất cảnh còn nhiều bất cập. Trong khi yêu cầu của các thị trường tiếp nhận ngày càng cao, một số doanh nghiệp dịch vụ vẫn chú trọng khai thác lợi nhuận hơn là đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo. Theo đại biểu, thời gian đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng nghề trước khi đi làm việc ở nước ngoài có thể kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm, nhưng ở một số nơi việc đào tạo còn mang tính hình thức, chưa giúp người lao động nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề. Hệ quả là nhiều lao động Việt Nam chỉ có thể tiếp cận những công việc giản đơn, thu nhập thấp, chưa phát huy được lợi thế về nguồn nhân lực.
Đại biểu cũng đề cập thực trạng một bộ phận lao động Việt Nam tham gia các chương trình được giới thiệu dưới hình thức thực tập sinh tại một số thị trường, nhưng thực tế lại đảm nhiệm công việc như lao động phổ thông trong thời gian dài. Vì vậy, dự thảo luật cần tiếp tục hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn đào tạo, kiểm soát chất lượng doanh nghiệp dịch vụ, bảo đảm người lao động thực sự được nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, thay vì chỉ là nguồn cung lao động giá rẻ.
Bên cạnh những hạn chế trong đào tạo và hỗ trợ người lao động, đại biểu Chu Lương Trí cho rằng, công tác quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện. Đại biểu đề nghị rà soát các quy định liên quan đến điều kiện tham gia thị trường, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tránh tạo ra cơ chế ưu tiên không cần thiết cho một số loại hình tổ chức, đồng thời xây dựng môi trường hoạt động minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
Cùng với đó, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng các quỹ hỗ trợ, bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hướng thuận lợi, thiết thực hơn, để các nguồn lực này thực sự phát huy vai trò khi người lao động gặp khó khăn, rủi ro.
Đại biểu Chu Lương Trí nhấn mạnh, sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là cơ hội để khắc phục những bất cập từ thực tiễn, làm rõ hơn trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị tư vấn và cơ quan quản lý nhà nước. Qua đó, xây dựng thị trường lao động ngoài nước phát triển bền vững, chuyển từ mục tiêu đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài sang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Không để tình trạng doanh nghiệp " đưa con bỏ chợ"
Cũng góp ý vào dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi), ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho rằng cần quy định rõ hơn trách nhiệm và tính ràng buộc của doanh nghiệp dịch vụ cũng như chính quyền địa phương trong toàn bộ quá trình đưa người lao động ra nước ngoài làm việc.
Theo đại biểu, doanh nghiệp không chỉ thực hiện việc tuyển chọn, thu phí và đưa người lao động xuất cảnh mà còn phải có trách nhiệm theo dõi, quản lý, hỗ trợ và bảo vệ người lao động trong suốt thời gian làm việc ở nước ngoài, tránh tình trạng "đưa con bỏ chợ".
.jpg)
Đại biểu cũng đề xuất nghiên cứu phân cấp mạnh hơn trong công tác quản lý, giao UBND cấp tỉnh thực hiện việc cấp phép hoạt động đối với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Các bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là Bộ Nội vụ, tập trung thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra, giám sát việc cấp phép và quá trình thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, đại biểu cho rằng cần có chính sách ưu tiên đưa đi làm việc ở nước ngoài nhằm nâng cao giá trị nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cùng với cơ chế ưu tiên phải có chế độ đãi ngộ phù hợp và các quy định ràng buộc nhằm hạn chế tình trạng lao động bỏ hợp đồng, ở lại nước ngoài trái phép, gây thất thoát nguồn nhân lực đã được đào tạo.
Đại biểu cũng đề nghị tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành như Ngoại giao, Công an, Nội vụ trong việc cung cấp đầy đủ thông tin về pháp luật, phong tục, tập quán của nước tiếp nhận lao động cho người lao động và chính quyền địa phương, góp phần phòng ngừa các hành vi lừa đảo, môi giới trái phép và những rủi ro phát sinh.
Để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, đại biểu kiến nghị UBND cấp tỉnh và các doanh nghiệp định kỳ hằng năm tổ chức các đoàn công tác sang nước tiếp nhận để nắm tình hình thực tế, kịp thời hỗ trợ, can thiệp khi phát sinh khó khăn. Đồng thời, doanh nghiệp phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với địa phương; trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cần có chế tài xử lý nghiêm.

Từ bài học thực tiễn trong đại dịch Covid-19, ĐBQH Huỳnh Văn Ngon (Đồng Tháp) đề nghị dự thảo luật cần bổ sung, hoàn thiện cơ chế bảo hộ và đưa người lao động về nước trong các trường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, bất ổn chính trị. Theo đó, cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp, nguồn lực thực hiện và vai trò của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để kịp thời hỗ trợ công dân khi phát sinh tình huống bất thường.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề nghị tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài, nhất là giữa các cơ quan về lao động, công an, ngoại giao và quốc phòng. Việc xây dựng hệ thống thông tin liên thông, chia sẻ dữ liệu và phối hợp xử lý tình huống khẩn cấp sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời trở thành điểm tựa bảo vệ người lao động trong quá trình làm việc ở nước ngoài.