Số hóa toàn bộ quy trình cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được kỳ vọng tháo gỡ những bất cập trong quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói thông qua việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp và chuyển đổi số. Đây là bước đi quan trọng nhằm xây dựng môi trường hành chính minh bạch, thuận lợi, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp nâng cao giá trị nông sản và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thời gian cấp mã số chỉ còn 3- 10 ngày
Ngày 4/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị Triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Nghị quyết 36 được ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ những bất cập trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Nghị quyết tập trung vào 2 mục tiêu chính: đơn giản hóa thủ tục hành chính; và tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Song song đó, Chính phủ cũng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương sửa đổi Nghị định số 38/2026/NĐ-CP về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, để hoàn thiện khung pháp lý. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt; đồng thời tạo môi trường hành chính minh bạch, thông thoáng hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Thông tin về những nội dung mới quan trọng tại Nghị quyết 36, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết, toàn bộ quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên môi trường số thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia và Hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống; minh bạch thông tin của toàn bộ quy trình thực hiện thủ tục hành chính.
Chủ tịch UBND cấp xã được giao thực hiện thủ tục cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời thực hiện hậu kiểm, quản lý, thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số theo quy định;
Hồ sơ đã được đơn giản hóa tối đa, chỉ còn Đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (bỏ Bản thuyết minh của mã số vùng trồng/mã số cơ sở đóng gói theo quy định tại Nghị định số 38). Như vậy, đã giảm 50% thành phần hồ sơ; nội dung Đơn chỉ bao gồm các thông tin tối thiểu cần thiết; không yêu cầu nộp lại giấy tờ, thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu và có thể khai thác được.
Thời gian giải quyết thủ tục cũng được rút ngắn đáng kể. Theo đó, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính từ 14 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu (giảm 11 ngày làm việc, tương ứng giảm 78,6%); và 10 ngày làm việc đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số (giảm 4 ngày, tương ứng giảm 28,6%).
Dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung, công khai và kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cùng các cơ sở dữ liệu liên quan, phục vụ quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Bãi bỏ quy định về diện tích tối thiểu, làm rõ việc cấp mã số cho các cây trồng xen canh và chủ thể chịu trách nhiệm, đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc.
Đối với các mã cấp trước đây, Nghị quyết tiếp tục duy trì hiệu lực, bảo đảm quá trình chuyển đổi không làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.
Hỗ trợ hạ tầng số và mở rộng thị trường xuất khẩu
Tại Hội nghị, các địa phương đánh giá các quy định mới phù hợp với thực tiễn; nhất là việc không giới hạn diện tích vùng trồng được cấp mã số và cho phép xem xét cấp mã số đối với diện tích trồng xen cây chủ lực. Để chính sách sớm phát huy hiệu quả, các ý kiến đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hỗ trợ về hạ tầng số, hướng dẫn chuyên môn và thúc đẩy mở cửa thị trường xuất khẩu.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk Đặng Thị Thủy, tỉnh xác định mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Hiện, địa phương đã hoàn thiện và gửi hồ sơ đăng ký cấp mã số đối với 253 vùng trồng và 93 cơ sở đóng gói. Tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh tiến độ đàm phán với các thị trường nhập khẩu để sớm mở cửa cho sầu riêng trong vụ thu hoạch sắp tới.
Bên cạnh đó, đề xuất Bộ chỉ đạo các đơn vị chuyên môn hỗ trợ tỉnh thí điểm số hóa, tích hợp dữ liệu và kết nối hạ tầng Bản đồ số nông sản tỉnh Đắk Lắk vào Hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia. Tỉnh cũng khẳng định đã sẵn sàng phát động "Chiến dịch cao điểm 30 ngày đêm" hỗ trợ cấp mã số vùng trồng tận gốc cho người dân và hợp tác xã bắt đầu từ cuối tuần này.
Gia Lai hiện có 451 mã số vùng trồng với gần 14.200ha, trong đó 346 mã số vùng trồng xuất khẩu đã được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt; đồng thời đã cấp 53 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu. Tuy nhiên, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đội ngũ cán bộ làm công tác chuyển đổi số tại cấp xã còn thiếu và hạn chế về chuyên môn. Vì vậy, địa phương đề nghị Bộ tăng cường tập huấn, hướng dẫn để bảo đảm việc triển khai thống nhất, hiệu quả.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng cũng đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hỗ trợ phát triển hệ thống phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn; đẩy nhanh đàm phán với Tổng cục Hải quan Trung Quốc để sớm phê duyệt các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã gửi; hướng dẫn kịp thời quy trình cấp mã số cho cấp xã.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ sớm ban hành hướng dẫn chi tiết về quy trình cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên môi trường số, truy xuất nguồn gốc và xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu. Đồng thời, Bộ cũng sẽ thành lập các tổ công tác đến các địa phương trọng điểm để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ triển khai Nghị quyết 36.