Thời sự Quốc hội

Hoàn thiện thể chế để phát triển bền vững ngành dầu khí

Phi Long 04/08/2026 18:27

Thảo luận tại Tổ 1 (Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội) về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), các ĐBQH đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển ngành dầu khí theo hướng hiện đại, bền vững.

Bổ sung cơ chế thúc đẩy chuyển đổi số

Thảo luận tại Tổ 1 về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), ĐBQH Lê Nhật Thành nhất trí với sự cần thiết ban hành và các nội dung sửa đổi của dự án Luật theo Tờ trình số 409/TTr-CP ngày 19/7/2026 của Chính phủ. Theo đại biểu, việc sửa đổi Luật Dầu khí là cần thiết nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển ngành dầu khí tự chủ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo động lực tăng trưởng, khơi thông nguồn lực và tăng sức hấp dẫn đầu tư trong lĩnh vực dầu khí.

Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu đề xuất một số nội dung cụ thể. Trước hết, đối với chính sách của Nhà nước về dầu khí (Điều 5), đại biểu cho biết, khoản 1 Điều 5 dự thảo Luật quy định Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư để tiến hành điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí tại Việt Nam nhằm gia tăng tài nguyên, trữ lượng, sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, vùng nước sâu, xa bờ; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2hgb6f2fxiq8rxp2oui8ixygfkhrhpegeyye(1).jpg
ĐBQH Lê Nhật Thành phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Hồ Như Ý

Theo ĐBQH Lê Nhật Thành, cần bổ sung nội dung khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí, phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW và chủ trương phát triển ngành dầu khí theo hướng hiện đại, bền vững.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 1 Điều 5 theo hướng bổ sung quy định Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tiến hành điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí tại Việt Nam nhằm gia tăng tài nguyên, trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, vùng nước sâu, xa bờ; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đối với các hành vi bị nghiêm cấm trong điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí (Điều 9), ĐBQH Lê Nhật Thành cho biết khoản 2 Điều 9 dự thảo Luật quy định hành vi lợi dụng điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây ô nhiễm môi trường.

Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề nghị bổ sung hành vi xâm phạm an toàn, an ninh mạng, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí. Theo đại biểu, nội dung này phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu trong lĩnh vực dầu khí.

Theo đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 2 Điều 9 theo hướng bổ sung quy định cấm hành vi xâm phạm an toàn, an ninh mạng, an toàn hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, bên cạnh các hành vi làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ô nhiễm môi trường.

Rà soát quy định thay thế báo cáo nghiên cứu tiền khả thi

Đối với quy định tại các Điều 35, 36 và 37 của dự thảo Luật, ĐBQH Lê Nhật Thành đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, làm rõ hơn quy định về kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí, kế hoạch khai thác sớm mỏ dầu khí và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí được thay thế báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án dầu khí theo quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật liên quan.

Đại biểu cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu vì các lý do sau, thứ nhất, khoản 18, khoản 19 và khoản 20 Điều 3 của dự thảo Luật quy định kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí, kế hoạch khai thác sớm mỏ dầu khí và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của dự án hoặc phương án. Do đó, cần làm rõ các tài liệu này có bảo đảm đầy đủ các nội dung theo yêu cầu của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi theo quy định của các luật có liên quan như Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công hay không.

2hgb6f2fzec8jvvg0mmaiqfbovwroajirgho(1).jpg
Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Thứ hai, quy định “theo quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật liên quan” còn mang tính khái quát, chưa xác định rõ giới hạn áp dụng đối với các luật chuyên ngành nên có thể dẫn đến lúng túng trong quá trình thực hiện. Theo đại biểu, phát triển mỏ dầu khí không chỉ diễn ra ngoài khơi mà còn có hoạt động phát triển mỏ dầu khí trên đất liền, phát triển mỏ dầu khí theo chuỗi giá trị theo quy định tại Điều 31 của dự thảo Luật. Vì vậy, ngoài việc tuân thủ Luật Dầu khí, các dự án còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đất đai, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và các quy định pháp luật có liên quan.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục

Tham gia thảo luận, ĐBQH Tạ Đình Thi đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của Chính phủ và các cơ quan soạn thảo. Theo đại biểu, dự thảo Luật đã có nhiều điểm tiến bộ, đặc biệt là việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục và lần đầu tiên đưa các quy định khung về hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao và năng lượng ngoài khơi.

Tuy nhiên, từ góc độ thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, nhất là Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đại biểu cho rằng dự thảo Luật vẫn còn một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để thực sự trở thành một đạo luật kiến tạo phát triển. Trên cơ sở đó, đại biểu tập trung góp ý vào ba nhóm nội dung.

2hgb6f2fzev6xao4vubirsck9d33hazar5du(1).jpg
ĐBQH Tạ Đình Thi phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Quang Khánh

Theo ĐBQH Tạ Đình Thi, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác định rõ quan điểm khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao khả năng chống chịu, năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro; bảo đảm duy trì lâu dài các giá trị và lợi ích chiến lược từ biển cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Đại biểu cho rằng dự thảo Luật cần phản ánh mạnh mẽ hơn tinh thần này thông qua việc tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến hoạt động CCS và quản lý môi trường.

Đối với hoạt động CCS, đại biểu đánh giá việc dự thảo Luật dành riêng Chương VIII để quy định về nội dung này là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, các quy định hiện mới dừng ở mức khung, chưa đủ tạo động lực cũng như hành lang pháp lý rõ ràng để triển khai các dự án thương mại.

Vì vậy, ĐBQH Tạ Đình Thi đề nghị bổ sung các quy định cụ thể hơn về trách nhiệm và quyền sở hữu, trong đó làm rõ quyền sở hữu đối với lượng CO2 sau khi bơm ép; trách nhiệm pháp lý dài hạn trong giám sát, bảo đảm an toàn, khắc phục rủi ro; đồng thời quy định rõ thời điểm và cơ chế bàn giao trách nhiệm quản lý từ nhà thầu sang Nhà nước sau khi kết thúc dự án.

Cần áp dụng các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt

Bên cạnh đó, ĐBQH Tạ Đình Thi đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế ưu đãi và bảo đảm tài chính đối với hoạt động CCS. Theo đại biểu, đây là lĩnh vực có suất đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, vì vậy ngoài cơ chế thu hồi chi phí cần có chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê khu vực biển và đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư nhằm khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này.

Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế cho phép nhập khẩu CO2 để lưu trữ, qua đó tạo điều kiện để Việt Nam trở thành trung tâm dịch vụ CCS của khu vực, phát huy những lợi thế sẵn có trong lĩnh vực này.

Đối với công tác quản lý môi trường, ĐBQH Tạ Đình Thi đề nghị rà soát, bổ sung quy định yêu cầu các dự án dầu khí, nhất là các dự án phát triển mới, phải áp dụng các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt; thực hiện quan trắc môi trường tự động; đồng thời xây dựng kế hoạch quản lý vòng đời công trình, ký quỹ tháo dỡ và phục hồi môi trường ngay từ giai đoạn lập kế hoạch phát triển mỏ.

Đề cập đến nội dung phát triển và chia sẻ cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, ĐBQH Tạ Đình Thi cho biết: Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển và đạt tỷ lệ số hóa, tích hợp, chia sẻ dữ liệu 100% trong hệ thống quản lý nhà nước vào năm 2030.

Theo đại biểu, qua hàng chục năm hoạt động, ngành dầu khí đã xây dựng được kho dữ liệu rất lớn về địa chất, địa vật lý và môi trường đáy biển. Đây là nguồn tài sản có giá trị đặc biệt quan trọng, phục vụ phát triển các dự án và nhiệm vụ trên biển. Đồng thời, Nghị quyết số 20-NQ/TW cũng xác định ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển các khu kinh tế quốc phòng trên biển và ven biển, trong đó dữ liệu là công cụ quan trọng phục vụ công tác quản lý và phát triển.

Từ thực tế đó, ĐBQH Tạ Đình Thi đề nghị dự thảo Luật bổ sung quy định về cơ chế bắt buộc và cơ chế khuyến khích chia sẻ dữ liệu, thông tin và mẫu vật thu được từ điều tra cơ bản cũng như hoạt động dầu khí với cơ sở dữ liệu quốc gia về biển do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý. Theo đại biểu, quy định này sẽ góp phần tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm ngân sách, nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp, thống nhất không gian biển; đồng thời phục vụ công tác quy hoạch, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh quốc gia.

Phi Long