Đề xuất chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp xã là sĩ quan, không quy định chức danh chính trị viên phó
Sáng 4/8, thảo luận tại Tổ 8 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh: Bắc Ninh, Cà Mau) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng, ĐBQH Nguyễn Thị Hương (Bắc Ninh) đề nghị sửa đổi Điều 2, dự thảo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sửa đổi) theo hướng quy định chính trị viên ban chỉ huy quân sự cấp xã là sĩ quan, đồng thời không quy định chức danh chính trị viên phó.
Theo ĐBQH Nguyễn Thị Hương, thực tế hiện nay bí thư đảng ủy xã, phường đang phải kiêm nhiệm nhiều chức danh, khối lượng công việc rất lớn; việc quy định này sẽ giúp giảm tải áp lực cho bí thư đảng ủy các xã, phường mà vẫn bảo đảm không làm tăng biên chế.

Về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), từ thực tiễn địa phương, ĐBQH Nguyễn Thị Hương kiến nghị không nên quy định thành lập Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan đã rõ ràng, công việc chủ yếu do văn phòng HĐND và UBND cấp xã tham mưu; việc duy trì hội đồng cấp xã dễ dẫn đến hình thức, kiêm nhiệm và né tránh trách nhiệm. Do đó, chỉ nên duy trì hội đồng ở cấp tỉnh để bảo đảm tinh gọn và hoạt động hiệu quả.
ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) cho rằng, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng đã kịp thời hoàn thiện cơ sở pháp lý cho tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời xác lập lại vị trí, thẩm quyền và mối quan hệ công tác của cơ quan quân sự địa phương, khắc phục khoảng trống phát sinh sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
Theo đại biểu, dự án Luật đã xử lý một số vướng mắc cấp bách trong tuyển quân, quản lý lực lượng dự bị động viên, phòng không nhân dân và tổ chức Ban chỉ huy quân sự cấp xã. Đây là những nội dung liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm quốc phòng, an ninh và duy trì hoạt động quản lý nhà nước liên tục, thông suốt.
Liên quan đến điều kiện thôi phục vụ trong quân đội của công nhân và viên chức quốc phòng tại điểm d khoản 1 Điều 34 dự thảo Luật quy định công nhân và viên chức quốc phòng được nghỉ hưu: “Hết hạn tuổi phục vụ cao nhất quy định tại Điều 31 của Luật này và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được nghỉ hưu”. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định: “Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu”.

Việc dự thảo tiếp tục quy định cứng thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 20 năm có thể dẫn đến trường hợp công nhân, viên chức quốc phòng đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo pháp luật về bảo hiểm xã hội nhưng vẫn bị xác định là chưa đủ điều kiện nghỉ hưu theo luật chuyên ngành. Từ đó làm phát sinh cách hiểu, áp dụng không thống nhất và ảnh hưởng đến quyền hưởng chế độ hưu trí của công nhân, viên chức quốc phòng.
Đại biểu đề nghị ban soạn thảo thống nhất sửa quy định thời gian đóng bảo hiểm xã hội của đối tượng này theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Về chương trình tuân thủ nội bộ của tổ chức, doanh nghiệp (Điều 18 dự thảo Luật) tại khoản 2 Điều 18 quy định: “Tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát có trách nhiệm xây dựng, áp dụng chương trình tuân thủ nội bộ phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động, loại hình hàng hóa, công nghệ, dịch vụ và rủi ro”.
Theo ĐBQH Trần Thị Vân, quy định như vậy sẽ được hiểu là mọi tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát vẫn phải “xây dựng, áp dụng chương trình tuân thủ nội bộ”, không phụ thuộc tần suất hoạt động và mức độ rủi ro. Ví dụ như: một doanh nghiệp rất ít phát sinh giao dịch liên quan đến hàng hóa thuộc diện kiểm soát, mức độ rủi ro thấp, vẫn phải xây dựng và áp dụng một “chương trình tuân thủ nội bộ”. Chương trình đó có thể đơn giản hơn doanh nghiệp thường xuyên xuất khẩu công nghệ lưỡng dụng, nhưng nghĩa vụ “xây dựng chương trình” vẫn tồn tại.
“Việc áp dụng một yêu cầu tương đối đồng nhất đối với tất cả doanh nghiệp có thể làm phát sinh chi phí xây dựng quy trình, bố trí nhân lực, đào tạo, lưu giữ hồ sơ và tổ chức kiểm soát không tương xứng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, tần suất giao dịch thấp hoặc mức độ rủi ro thấp; đồng thời dễ dẫn đến tình trạng xây dựng chương trình mang tính hình thức”.
ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh)
Đại biểu đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu và quy định phân tầng nghĩa vụ theo hướng: mọi tổ chức, doanh nghiệp đều phải thực hiện biện pháp tuân thủ tương xứng với rủi ro; chỉ bắt buộc xây dựng chương trình tuân thủ nội bộ đầy đủ đối với nhóm hoạt động thường xuyên hoặc có mức độ rủi ro cao. Đồng thời cho phép tích hợp các biện pháp này vào hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ hiện có.

Cũng tại khoản 2 Điều 18 Dự thảo Luật, ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (Bắc Ninh) cho rằng tại Điều 5 của Nghị định số 259/2025/NĐ-CP ngày 10/10/2025 quy định về Chương trình tuân thủ nội bộ của Chính phủ cũng chỉ dừng ở mức độ “khuyến khích” thương nhân xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, trung chuyển, quá cảnh hàng hóa thương mại chiến lược xây dựng và thực hiện Chương trình tuân thủ nội bộ.
Trong khi đó, tại khoản 2 Điều 18 của dự thảo Luật thì “tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát có trách nhiệm xây dựng, áp dụng chương trình tuân thủ nội bộ phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động, loại hình hàng hóa, công nghệ, dịch vụ và rủi ro”, như vậy việc xây dựng chương trình tuân thủ nội bộ là nghĩa vụ bắt buộc đối với tổ chức, doanh nghiệp. Mặt khác, quy định “tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát” là chưa rõ ràng những tổ chức, doanh nghiệp nào phải thực hiện việc này.
Đại biểu đề nghị cân nhắc quy định tại Điều 18 của dự thảo Luật, bảo đảm thực hiện đúng yêu cầu “không làm phát sinh thủ tục hành chính, cơ chế quản lý hoặc chi phí tuân thủ không cần thiết” tại Kết luận số 128/KL-UBTVQH16 ngày 20/7/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà cũng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, làm rõ các quy định của dự thảo Luật (Điều 19) về đánh giá, công nhận và áp dụng chế độ ưu tiên đối với tổ chức, doanh nghiệp tuân thủ có phát sinh các thủ tục quản lý, cấp phép, khai báo, báo cáo, kiểm tra, thanh tra, giám sát độc lập không.
Trường hợp không phát sinh các thủ tục này thì cũng không có chế độ ưu tiên quy định tại Điều 19 của dự thảo Luật, trường hợp có phát sinh thủ tục thì phải rà soát chỉnh lý lại các quy định có liên quan tại dự thảo Luật để bảo đảm tính thống nhất.