Thể chế hóa chủ trương của Đảng, đưa xuất bản thành ngành công nghiệp văn hóa
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất. Với nhiều quy định tiến bộ so với pháp luật hiện hành, dự án Luật được kỳ vọng sẽ thể chế hóa các chủ trương của Đảng, phát triển xuất bản thành ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn. Báo Đại biểu Nhân dân có cuộc trao đổi với ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội PHẠM NAM TIẾN xung quanh dự án Luật này.
.jpg)
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất. Với nhiều quy định tiến bộ so với pháp luật hiện hành, dự án Luật được kỳ vọng sẽ thể chế hóa các chủ trương của Đảng, phát triển xuất bản thành ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn. Báo Đại biểu Nhân dân có cuộc trao đổi với ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội PHẠM NAM TIẾN xung quanh dự án Luật này.
Bốn điểm nghẽn lớn của xuất bản
______
- Để phục vụ công tác thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản, Ủy ban Văn hóa và Xã hội vừa tổ chức khảo sát về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực xuất bản, làm việc với nhiều đơn vị xuất bản thuộc các loại hình khác nhau. Xin ông cho biết, những bất cập, điểm nghẽn, vướng mắc nổi lên với ngành xuất bản hiện nay là gì?
- Qua khảo sát và làm việc trực tiếp với nhiều đơn vị, từ nhà xuất bản, doanh nghiệp phát hành cho đến các chuyên gia, nhà khoa học, chúng tôi nhận thấy ngành xuất bản Việt Nam có rất nhiều tiềm năng và dư địa phát triển. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những điểm nghẽn. Cụ thể, có bốn vấn đề lớn nổi lên.
Thứ nhất, tiềm lực tài chính và năng lực thị trường của ngành còn hạn chế. Xuất bản được xác định là một trong 10 ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, vốn điều lệ và doanh thu của đa số nhà xuất bản ở mức thấp so với yêu cầu phát triển, dẫn đến khó vay vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển mô hình kinh doanh và chuyển đổi số, khó mở rộng nền tảng phát hành nếu không có cơ chế hỗ trợ kịp thời và thực chất.

Thứ hai, mô hình tổ chức của các nhà xuất bản chưa thực sự tối ưu cho phát triển. Các nhà xuất bản nhà nước đang phải vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa tự chủ tài chính, nhưng thiếu cơ chế tương xứng để làm cả hai việc thực sự tốt. Xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị thường có lượng phát hành thấp, khó sinh lời; trong khi đơn vị vẫn phải lo cân đối thu - chi. Bên cạnh đó, cơ chế tuyển dụng thiếu linh hoạt, chế độ đãi ngộ cho biên tập viên - những người giữ vai trò cốt lõi trong quy trình xuất bản chưa tương xứng với yêu cầu nghề nghiệp, khiến các nhà xuất bản gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Thứ ba, thời gian qua, mặc dù cơ quan chức năng đã nỗ lực đấu tranh nhưng vẫn còn tình trạng sách giả, sách lậu lưu thông trên thị trường, xuất bản phẩm bị phát tán trên internet dưới hình thức điện tử. Trong khi đó, tác giả và chủ sở hữu quyền liên quan chưa có cơ sở pháp lý đủ mạnh để yêu cầu các nền tảng số, nhất là các nền tảng xuyên biên giới gỡ bỏ nội dung vi phạm trong một thời hạn bắt buộc. Điều này dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của tác giả, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp làm ăn chân chính.

Thứ tư, khung pháp lý cho xuất bản số chưa đủ rõ và đủ mạnh. Xuất bản số là xu hướng không thể đảo ngược; là thị trường rất tiềm năng mà xuất bản Việt Nam hiện chưa thể khai mở vì nhiều nguyên nhân. Trong đó, pháp luật hiện hành chưa xác định rõ địa vị pháp lý của sách điện tử, sách nói, sách tương tác; chưa hướng dẫn hạch toán doanh thu từ các định dạng xuất bản phẩm mới; chưa có cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các nền tảng số trung gian, đặc biệt là nền tảng xuyên biên giới. Điều này khiến doanh nghiệp trong nước thiếu bảo vệ pháp lý, khó cạnh tranh công bằng với các nền tảng toàn cầu đang hoạt động trên thị trường Việt Nam.
Bổ sung khung pháp lý cho xuất bản điện tử
______
- Với những điểm nghẽn, bất cập như vậy, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đã giải quyết được đến đâu, còn vấn đề nào cần tiếp tục nghiên cứu, thưa ông?
- Nhìn tổng thể, dự thảo Luật có nhiều điểm tiến bộ so với pháp luật hiện hành. Cụ thể, dự thảo Luật đã cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh; bổ sung khung pháp lý cho xuất bản điện tử và sách nói; lần đầu tiên đặt nền tảng pháp lý cho mô hình cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia hoạt động đa nền tảng, đa sản phẩm - điều mà thực tiễn đã đòi hỏi từ rất lâu. Tôi cũng đánh giá cao việc dự thảo Luật bổ sung cơ chế bảo vệ biên tập viên và người làm công tác xuất bản trước các hành vi đe dọa, cản trở hoạt động nghề nghiệp.



Tuy nhiên, một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ hơn. Trong đó, dự thảo Luật quy định về mô hình cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia là hướng đi đúng, nhưng điều kiện cụ thể để hình thành mô hình này và cơ chế tài chính đặc thù đi kèm cần thiết kế rõ hơn nhằm thể chế hóa cụ thể tinh thần của Chỉ thị 04-CT/TW, tập trung nguồn lực đầu tư phát triển một số đơn vị xuất bản mạnh, đóng vai trò dẫn dắt thị trường.
Bên cạnh đó, nhiều nội dung quan trọng về xuất bản số, trí tuệ nhân tạo và hệ sinh thái xuất bản được giao Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định. Đây là lĩnh vực có tác động trực tiếp đến vấn đề an ninh thông tin và quyền lợi chính đáng của nhiều bên có liên quan, đòi hỏi Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành văn bản hướng dẫn, bảo đảm các nguyên tắc cốt lõi của Luật được thực hiện đầy đủ và nhất quán.
Dự thảo Luật có bước cải cách đáng ghi nhận trong quản lý nhập khẩu xuất bản phẩm: chuyển từ cơ chế tiền kiểm, cơ quan nhà nước cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm sang cơ chế tự thẩm định của cơ sở nhập khẩu kết hợp hậu thông báo. Tuy nhiên, cơ chế “tự thẩm định” chỉ thực chất khi cơ sở nhập khẩu có đội ngũ thẩm định nội dung đủ năng lực chuyên môn thực sự; đồng thời cần bổ sung quy định đồng bộ trong pháp luật về hải quan để tránh kẽ hở nhập khẩu xuất bản phẩm khối lượng lớn dưới danh nghĩa “xuất bản phẩm không kinh doanh”.
Từng bước thể chế hóa Chỉ thị 04
______
- Việc sửa đổi Luật Xuất bản lần này đặt trong bối cảnh đặc biệt khi Ban Bí thư vừa ban hành Chỉ thị 04-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Tinh thần chỉ đạo mới này đã được thể chế hóa trong dự thảo Luật như thế nào, thưa ông?
- Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư là một văn bản đặc biệt quan trọng. Lần đầu tiên, Đảng có một chỉ đạo toàn diện về xuất bản trong kỷ nguyên số, bao gồm cả định hướng về mô hình tổ chức, cơ chế quản lý, ứng dụng công nghệ và phát triển thị trường. Chỉ thị xác định xuất bản vừa là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, vừa là ngành kinh tế - công nghệ, bộ phận của công nghiệp văn hóa và công cụ ngoại giao văn hóa. Đây là sự thay đổi quan trọng trong cách nhìn nhận vị trí và vai trò của ngành.

Dự thảo Luật đã thể chế hóa được nhiều nội dung định hướng, như: chuyển đổi mô hình hoạt động của nhà xuất bản; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; xây dựng bước đầu khung pháp lý cho xuất bản số; và hình thành cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia hoạt động đa nền tảng, đa sản phẩm - có thể coi là hình thái tiền thân của mô hình tập đoàn xuất bản, truyền thông mà Chỉ thị đặt ra.
Chỉ thị 04 còn một số định hướng chiến lược dài hạn hơn, như thành lập quỹ phát triển xuất bản; áp dụng chính sách giá sách cố định và các cơ chế tài chính đặc thù khác… đòi hỏi lộ trình và điều kiện đầy đủ hơn mới có thể luật hóa được. Khi có điều kiện, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiếp tục nghiên cứu sửa đổi toàn diện Luật Xuất bản để thể chế hóa các chủ trương đó.
Cách tiếp cận từng bước như vậy vừa bảo đảm tính khả thi ngay trước mắt, vừa giữ được định hướng chiến lược dài hạn, không để lộ trình thể chế hóa bị đứt đoạn.
Bốn điểm đột phá đưa xuất bản thành ngành công nghiệp văn hóa
______
- Một trong những mục tiêu sửa Luật Xuất bản lần này còn là hoàn thiện hành lang pháp lý phát triển xuất bản thực sự trở thành một ngành mũi nhọn của công nghiệp văn hóa. Với mục tiêu này, dự thảo Luật đã có những chính sách đột phá gì, thưa ông?
- Để đánh giá đúng, cần đặt trong bối cảnh thực tế: năm 2025, doanh thu phát hành xuất bản phẩm đạt 5.230 tỷ đồng, tăng gần 9%, vượt mục tiêu tăng trưởng; toàn ngành duy trì tốc độ 6 - 7%/năm trong nhiều năm liên tiếp. Ngành xuất bản Việt Nam đang phát triển bằng chính nội lực. Nếu có hành lang pháp lý phù hợp để khai phá thị trường số, dư địa còn rất lớn.

Có bốn điểm tôi cho là đột phá thực chất về tư duy quản lý và nền tảng pháp lý của dự thảo Luật.
Một là, cải cách thủ tục hành chính theo chiều sâu. Dự thảo Luật dự kiến bãi bỏ 16/30 thủ tục hành chính hiện hành, đồng thời đơn giản hóa phần còn lại; phân cấp 6 thủ tục từ Trung ương về địa phương, trong đó có 2 thủ tục cấp, cấp lại giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được phân cấp xuống tận cấp xã - gần người dân và doanh nghiệp hơn rất nhiều. Đây không đơn thuần là cắt giảm về số lượng, mà phản ánh sự chuyển dịch trong triết lý quản lý: từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ kiểm soát sang kiến tạo, trao quyền tự chủ và trách nhiệm nhiều hơn cho đơn vị xuất bản.


Hai là, xây dựng nền tảng pháp lý cho hệ sinh thái xuất bản. Tôi đánh giá rất cao dự thảo Luật đã xác định rõ địa vị pháp lý cho sách điện tử, sách nói, sách tương tác; mở rộng đối tượng tham gia liên kết xuất bản, tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ, truyền thông, cơ sở giáo dục, thư viện và các tổ chức sáng tạo nội dung tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị xuất bản; bổ sung cơ chế khai thác, chuyển thể, thương mại hóa nội dung và phát triển sản phẩm phái sinh. Các nền tảng trung gian phát hành xuất bản phẩm điện tử, kể cả nền tảng xuyên biên giới, cũng được đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Đây là nền tảng pháp lý cần thiết để ngành xuất bản trong nước có thể phát triển và cạnh tranh hiệu quả trên môi trường số.
Ba là, bổ sung chính sách nguồn nhân lực và phát triển văn hóa đọc. Không có đội ngũ làm xuất bản được đào tạo bài bản và không có thói quen đọc sách được nuôi dưỡng trong xã hội thì mọi chính sách phát triển khác đều thiếu nền tảng.
Bốn là, tạo căn cứ thiết lập khuôn khổ pháp lý cho trí tuệ nhân tạo (AI) trong xuất bản. Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật yêu cầu công khai sự tham gia của AI trong quá trình tạo lập nội dung xuất bản phẩm. Trong bối cảnh AI đang xâm nhập vào toàn bộ chuỗi giá trị nội dung - từ sáng tác, dịch thuật, biên tập cho đến cá nhân hóa nội dung theo hành vi người đọc, quy định này vừa bảo vệ quyền lợi độc giả, vừa bảo vệ uy tín ngành xuất bản trước rủi ro của việc lạm dụng AI.
Xuất bản phẩm không chỉ là hạ tầng tri thức quốc gia mà còn là gốc rễ của nhiều ngành công nghiệp văn hóa khác. Một cuốn sách có thể trở thành kịch bản phim, thành trò chơi điện tử, thành sách nói, thành podcast, thành hàng chục sản phẩm phái sinh có giá trị. Xuất bản phẩm cũng là công cụ sức mạnh mềm trong bối cảnh hội nhập. Nhưng bốn điểm đột phá trên mới chỉ là điều kiện cần. Để kỳ vọng đó trở thành hiện thực cần có những cam kết cụ thể hơn về nguồn lực tài chính và đầu tư công cho ngành xuất bản. Quan trọng nhất là xây dựng một thị trường xuất bản lành mạnh - nơi mà các bản thảo, sản phẩm nội dung, xuất bản phẩm có chất lượng, có giá trị nhận được sự trân trọng xứng đáng.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nhật Linh thực hiện