Cắt giảm điều kiện kinh doanh phải đi cùng nâng cao năng lực hậu kiểm
Chiều 3/8, Thảo luận tại Tổ 3 về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư, các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh cho rằng, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh phải đi cùng với nâng cao năng lực hậu kiểm; đồng thời, quy định cụ thể về tiêu chí cắt để nhà đầu tư yên tâm cũng như tránh việc quy định “tùy nghi, thời điểm”.
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Nghĩa và Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh dự thảo luận tại Tổ.
.jpg)
Cần thực hiện theo lộ trình với các tiêu chí cụ thể
Tại thảo luận tổ, các ĐBQH Thanh Hóa và Tây Ninh cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật cũng như nhiều nội dung trong dự thảo và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Các đại biểu cho rằng, việc sửa đổi Điều 6 và Phụ lục IV của Luật Đầu tư là bước đi cần thiết nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Đồng thời, các đại biểu cũng đánh giá cao Chính phủ và cơ quan soạn thảo đã khẩn trương chuẩn bị hồ sơ để trình Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Góp ý về nguyên tắc rà soát Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) đề nghị thực hiện trên cơ sở nhất quán: chỉ giữ lại trong Danh mục những ngành, nghề mà nếu không được kiểm soát bằng điều kiện đầu tư kinh doanh sẽ thực sự phát sinh rủi ro đối với quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng, đúng với các tiêu chí được quy định tại Điều 7 của Luật Đầu tư.
.jpg)
Đối với từng ngành, nghề, cơ quan soạn thảo cần làm rõ mục tiêu quản lý có thể đạt được bằng những công cụ khác như tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hậu kiểm hoặc chế tài xử lý vi phạm hay không. Trường hợp đã có công cụ quản lý khác phù hợp và hiệu quả thì cần mạnh dạn đưa ngành, nghề đó ra khỏi Danh mục kinh doanh có điều kiện.
Theo đại biểu, tinh thần chung là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm chi phí tuân thủ, tăng trách nhiệm tự công bố và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; đồng thời đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, giám sát. Tuy nhiên, việc chuyển sang hậu kiểm chỉ thực chất khi các điều kiện bảo đảm đi kèm được chuẩn bị đồng bộ. Cần đánh giá đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thay thế; cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý; năng lực của bộ máy thanh tra, kiểm tra cũng như mức độ nghiêm khắc và sức răn đe của các chế tài xử lý vi phạm.
.jpg)
Đại biểu nhấn mạnh: “Bỏ tiền kiểm đồng nghĩa với việc bỏ kiểm soát đầu vào. Nếu năng lực hậu kiểm chưa đáp ứng yêu cầu, tức là chưa đủ khả năng kiểm soát đầu ra, thì đây không phải là cắt giảm thủ tục mà có thể dẫn đến việc chuyển rủi ro từ doanh nghiệp sang người dân”.
Vì vậy, việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh phải được thực hiện theo lộ trình. Đối với ngành, nghề được bãi bỏ điều kiện kinh doanh, trước đó cần xây dựng đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thay thế và chuẩn bị sẵn sàng bộ máy hậu kiểm. Không nên bãi bỏ điều kiện trước rồi mới xây dựng công cụ quản lý thay thế sau.

Về vấn đề này, ĐBQH Trịnh Ngọc Phương (Tây Ninh) nhấn mạnh, dự thảo luật cần phải xây dựng được tiêu chí cắt giảm cụ thể, “cắt giảm cái gì, cắt giảm như thế nào và ra sao?”. Nếu không có tiêu chí xuyên suốt, các quy định sẽ mang tính “tùy nghi, thời điểm”, dẫn đến việc sau này có thể khôi phục lại các quy định cũ khi sửa đổi, khiến nhà đầu tư không yên tâm.
Đối với các quy định về phân loại ngành nghề, đại biểu Trịnh Ngọc Phương cho rằng, cần quy định rõ tiêu chí cho từng nhóm, ngành nào tiếp tục duy trì, ngành nào chuyển sang hậu kiểm và ngành nào bãi bỏ hoàn toàn. Việc có căn cứ tiêu chí rõ ràng sẽ giúp giảm bớt thủ tục theo sự phát triển của kinh tế một cách khoa học.
Đại biểu cũng đề xuất Chính phủ cần tổng kết việc giảm điều kiện kinh doanh định kỳ, thậm chí là sau 1 năm để rút kinh nghiệm kịp thời. Bởi, chính sách thay đổi liên tục mà không có sự tổng kết, đánh giá kỹ lưỡng sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp khi quyết định đầu tư.

ĐBQH Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) ủng hộ việc cắt giảm thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian hậu kiểm. Tuy nhiên, đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, đại biểu cho rằng không nên áp dụng đại trà cho mọi quy mô trang trại hoặc hoạt động sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ. Cần quy định dựa trên quy mô cụ thể hoặc theo hướng dẫn chuyên ngành để tránh gây khó khăn cho người dân. Hiện nay, nhà đầu tư phải thực hiện hai vòng thủ tục gần như trùng khớp nhau, gồm xin chủ trương nhận chuyển nhượng đất và xin chủ trương đầu tư, qua nhiều sở, ngành, gây lãng phí thời gian.
Tại phiên thảo luận tổ, các ĐBQH cũng chỉ ra một hạn chế kéo dài là các điều kiện kinh doanh hiện đang nằm phân tán tại nhiều văn bản khác nhau. Không ít quy định còn mang tính định tính, thiếu tiêu chí định lượng, dẫn đến doanh nghiệp khó tuân thủ và cơ quan quản lý cũng khó kiểm tra, đánh giá. Theo đó, các đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo rà soát toàn diện và từng bước lượng hóa các điều kiện đầu tư kinh doanh, bảo đảm các quy định rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện và có thể kiểm tra được trên thực tế.
.jpg)
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế rà soát Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo định kỳ. Chính phủ cần định kỳ rà soát, báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện và đề xuất những nội dung cần điều chỉnh, nhất là đối với các lĩnh vực mới như công nghệ số, đổi mới sáng tạo và tài chính số.
Theo đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa): “Chỉ khi có cơ chế rà soát thường xuyên, có kế hoạch và chủ động thì việc điều chỉnh Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mới theo kịp thực tiễn, thay vì chỉ sửa đổi khi những bất cập đã phát sinh”
Không để việc cắt giảm điều kiện kinh doanh chỉ mang tính hình thức
Liên quan đến dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, ĐBQH Lê Thanh Hoàn (Thanh Hóa) đề cập đến chủ trương chấm dứt điều kiện hành nghề đối với đại lý làm thủ tục hải quan và bãi bỏ yêu cầu cấp chứng chỉ nghiệp vụ hải quan cho nhân viên đại lý.

Đại biểu cho biết, chủ trương cắt giảm điều kiện kinh doanh tại Nghị quyết 66.18 ngày 15/6/2026 của Chính phủ đã yêu cầu bãi bỏ các quy định liên quan trong Luật Hải quan và một số thông tư. Tuy nhiên, Thông tư 83/2026/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 30/6/2026 sau đó vẫn tiếp tục quy định về chứng chỉ nghiệp vụ hải quan đối với nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Trong khi đó, Điều 20 của dự thảo Luật Hải quan vẫn còn quy định chung về điều kiện hoạt động và giao Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể. Việc văn bản hướng dẫn tiếp tục yêu cầu nhân viên đại lý phải có chứng chỉ nghiệp vụ hải quan cho thấy chủ trương cắt giảm điều kiện kinh doanh chưa được thực hiện đầy đủ.
.jpg)
Đại biểu phân tích, muốn hoạt động với tư cách đại lý làm thủ tục hải quan thì doanh nghiệp phải có nhân viên đại lý. Nhưng để trở thành nhân viên đại lý, cá nhân vẫn phải có chứng chỉ nghiệp vụ hải quan. Như vậy, dù điều kiện hành nghề của đại lý được tuyên bố bãi bỏ, điều kiện đối với nhân viên vẫn được giữ lại và trở thành điều kiện gián tiếp quyết định sự tồn tại của đại lý.
Theo đại biểu, cách thiết kế này về bản chất vẫn duy trì điều kiện kinh doanh cũ. Việc cắt giảm mới chỉ thể hiện ở tên gọi, còn doanh nghiệp muốn hoạt động vẫn phải đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ thông qua đội ngũ nhân viên.
Đại biểu Lê Thanh Hoàn cho rằng, Chính phủ thời gian qua đã rất chủ động trong việc cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, chủ trương này cần phải được thực hiện nhất quán từ nghị quyết, luật đến các thông tư hướng dẫn.
“Không nên để xảy ra tình trạng một quy định vừa được bãi bỏ, vừa bắt đầu có hiệu lực thi hành thì cơ quan quản lý lại đề xuất khôi phục hoặc tiếp tục duy trì bằng một quy định khác. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả cải cách mà còn khiến doanh nghiệp khó xác định chính sách nào sẽ được áp dụng ổn định, lâu dài” - Đại biểu Lê Thanh Hoàn nhấn mạnh.

Cùng góp ý vào Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan ĐBQH Phạm Thế Anh (Thanh Hóa) cho rằng, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và hiện đại hóa hoạt động hải quan là yêu cầu cần thiết. Tuy nhiên, các quy định mới phải bảo đảm tính khả thi, tạo thuận lợi cho hoạt động giao dịch xuyên biên giới, đồng thời không phát sinh thêm rào cản đối với người dân, doanh nghiệp và các chủ thể có nhu cầu giao dịch hợp pháp.
Đại biểu Phạm Thế Anh đề nghị nghiên cứu tháo gỡ rào cản về xác thực định danh điện tử đối với những cá nhân không có tài khoản định danh điện tử mức độ 2. Tại Khoản 3, Điều 16a của dự thảo luật quy định tổ chức, cá nhân tại Việt Nam khi mua, bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng thương mại điện tử phải thực hiện xác thực định danh điện tử theo quy định. Trong khi đó, theo Nghị định số 69/2024/NĐ-CP về định danh và xác thực điện tử, tài khoản định danh điện tử mức độ 2 hiện gắn với căn cước công dân hoặc căn cước Việt Nam.

Thực tế, một bộ phận không nhỏ người có nhu cầu giao dịch xuyên biên giới hợp pháp nhưng không có căn cước công dân Việt Nam và chưa thể đăng ký tài khoản định danh điện tử mức độ 2. Trong đó có người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước trong thời gian ngắn, chuyên gia và lao động nước ngoài làm việc hợp pháp tại Việt Nam, sinh viên quốc tế hoặc người mang hộ chiếu nước ngoài thường trú tại Việt Nam.
Do đó, đại biểu Phạm Thế Anh đề nghị bổ sung phương thức xác thực thay thế đối với những cá nhân thuộc nhóm này. Việc xác thực có thể được thực hiện thông qua hộ chiếu gắn chip hoặc bằng phương thức eKYC do các tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Quy định như vậy vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa không làm gián đoạn những giao dịch xuyên biên giới hợp pháp.

Còn ĐBQH Nguyễn Duy Tiến (Tây Ninh) quan tâm tới các quy định về Kiểm định Hải quan được quy định tại Điều 16b của dự thảo Luật. Đại biểu bày tỏ lo ngại về việc chồng chéo, trùng lặp với các cơ quan kiểm tra chuyên ngành khác. Trong bối cảnh đang đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, việc thêm quy định này có thể khiến hải quan làm lại những việc mà các cơ quan kiểm định chất lượng đã thực hiện, gây tốn kém cho doanh nghiệp.