Ý kiến đại biểu

ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh): Bổ sung quy định về nguyên tắc quản lý đối với hàng hoá đặt gia công ở nước ngoài

Hoàng Nga 03/08/2026 18:09

Phát biểu tại phiên thảo luận tổ, chiều 3/8 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) đề nghị bổ sung 1 khoản quy định riêng về nguyên tắc quản lý đối với hàng hóa đặt gia công ở nước ngoài (quản lý từ khi xuất khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị tạm xuất cho đến khi nhập khẩu sản phẩm hoàn thành hoặc thay đổi mục đích sử dụng).

Theo ĐBQH Trần Thị Vân, Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 đã quy định cụ thể về hoạt động đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài (Điều 51 và 52). Hệ thống văn bản dưới Luật hiện hành (Thông tư số 38/2015/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC) cũng đã quy định rõ thủ tục, quản lý, báo cáo quyết toán nguyên liệu, vật tư đặt gia công ở nước ngoài.

dbnd.1cdn.vn-2026-08-03-_c-van.jpeg
ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) phát biểu tại phiên thảo luận tổ. Ảnh: H.Nga

Tuy nhiên, dự thảo Luật Hải quan lại chưa bao quát nội dung này: khoản 29 Điều 4 Dự thảo Luật mới chỉ đề cập đến sản xuất nhằm mục đích xuất khẩu; Điều 59 Dự thảo Luật chỉ quy định cơ chế quản lý theo một chiều từ khi nhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng… Vì vậy đại biểu đề nghị bổ sung 1 khoản quy định riêng về nguyên tắc quản lý đối với hàng hóa đặt gia công ở nước ngoài (quản lý từ khi xuất khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị tạm xuất cho đến khi nhập khẩu sản phẩm hoàn thành hoặc thay đổi mục đích sử dụng).

Tại Khoản 4, Điều 1, bổ sung Điều 16a vào sau Điều 16, ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) cho rằng việc bắt buộc cá nhân mua hàng nhỏ lẻ từ nước ngoài qua các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới phải thực hiện định danh điện tử hải quan sẽ tạo rào cản lớn về thủ tục hành chính cho người tiêu dùng. Theo Khoản 3 Điều 16a quy định: “Tổ chức, cá nhân tại Việt Nam khi mua, bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng thương mại điện tử phải thực hiện xác thực định danh điện tử theo quy định”. Theo ĐBQH Trần Thị Vân quy định này thiếu tính khả thi đối với người mua vãng lai là người nước ngoài, khách du lịch tại Việt Nam chưa có mã số thuế hoặc tài khoản VneID. Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc phân loại theo ngưỡng giá trị giao dịch để áp dụng quy định xác thực định danh và xác thực đối với cá nhân Việt Nam mua hàng nhỏ lẻ hoặc người mua hàng vãng lai tại Việt Nam (người nước ngoài, khách du lịch tại Việt Nam) (nếu có).

Tại khoản 3 Điều 17a dự thảo Luật quy định “Cơ quan hải quan áp dụng chính sách ưu tiên, miễn, giảm kiểm tra, giám sát hải quan và các hoạt động nghiệp vụ khác đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của người khai hải quan tuân thủ tốt pháp luật”. Tại khoản 3 Điều 17a dự thảo Luật quy định cơ quan hải quan ưu tiên thực hiện thủ tục hải quan, miễn, giảm kiểm tra, giám sát và áp dụng các biện pháp thuận lợi khác đối với người khai hải quan tuân thủ tốt pháp luật. Quy định này là cần thiết, phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và quản lý hải quan theo mức độ rủi ro.

Tuy nhiên, nội dung dự thảo chưa làm rõ mối quan hệ giữa cơ chế ưu tiên theo mức độ tuân thủ tại Điều 17a với chế độ doanh nghiệp ưu tiên đang được quy định tại các Điều 42 đến Điều 45 Luật Hải quan; chưa xác định doanh nghiệp đã được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên có đương nhiên được xếp vào nhóm tuân thủ tốt hay vẫn phải thực hiện một quy trình đánh giá riêng.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 17a xác định việc giám sát, đánh giá tuân thủ là hoạt động thường xuyên, trong khi khoản 1 Điều 79 lại quy định việc kiểm tra, đánh giá tuân thủ được thực hiện theo kế hoạch kiểm tra sau thông quan hằng năm, dễ dẫn đến trùng lặp về thẩm quyền, phương pháp và kết quả đánh giá.

Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ phạm vi, tiêu chí và giá trị pháp lý của từng cơ chế; xác định nguyên tắc công nhận tương thích giữa doanh nghiệp ưu tiên và người khai hải quan tuân thủ tố. Đồng thời làm rõ quan hệ giữa đánh giá thường xuyên trên cơ sở dữ liệu tại Điều 17a với đánh giá định kỳ thông qua kiểm tra sau thông quan tại Điều 79, bảo đảm không phát sinh nhiều kết quả phân loại khác nhau đối với cùng một doanh nghiệp.

Tại khoản 3 Điều 20 dự thảo Luật quy định: “Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn và quản lý hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan”. Dự thảo đã bỏ một số điều kiện cụ thể của Luật hiện hành về trình độ đào tạo, chứng chỉ nghiệp vụ và số lượng nhân viên tối thiểu; tuy nhiên, việc tiếp tục giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chung về “tiêu chuẩn” vẫn có thể dẫn đến việc đặt ra các yêu cầu bắt buộc về nhân sự, văn bằng, chứng chỉ, mã số hoặc thủ tục công nhận trước khi doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ. Về bản chất, nếu doanh nghiệp không đáp ứng các tiêu chuẩn này thì không được gia nhập hoặc tiếp tục hoạt động trên thị trường, do đó đây vẫn là điều kiện đầu tư kinh doanh.

Trong khi đó, theo Luật Đầu tư năm 2025, “kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan” không còn thuộc Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; việc Dự thảo tiếp tục duy trì cơ chế giao quy định tiêu chuẩn có thể dẫn đến sự chưa thống nhất giữa Luật Hải quan và Luật Đầu tư, làm phát sinh trở lại điều kiện kinh doanh thông qua văn bản dưới luật, tăng chi phí tuân thủ và hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

ĐBQH Trần Thị Vân đề nghị Ban soạn thảo sửa khoản 3 Điều 20 theo hướng chỉ giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định quy trình nghiệp vụ, phương thức đăng ký, kết nối và sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, trách nhiệm bảo mật, lưu trữ hồ sơ và xử lý vi phạm trong quá trình hoạt động; không quy định các điều kiện về số lượng nhân viên, trình độ, chứng chỉ hoặc thủ tục công nhận đại lý làm thủ tục hải quan. Cách quy định này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa phù hợp với chủ trương chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Đối với hàng hóa ra, vào Doanh nghiệp chế xuất (DNCX), đại biểu cũng đề nghị bổ sung 1 điều/khoản riêng về quản lý hải quan đối với DNCX/Khu phi thuế quan.

Hoàng Nga