Khoa học - Công nghệ

Công nghệ chiến lược phải bắt đầu từ phòng thí nghiệm

Hồng Hạnh - Duy Thông 02/08/2026 09:11

Công nghệ bắt đầu từ một lớp học, nơi một học sinh say mê một bài toán vật lý; từ một giảng đường, nơi một sinh viên kiên trì tìm lời giải cho một bài toán tưởng như chưa có ứng dụng; hay từ một nhà khoa học bền bỉ theo đuổi một hướng nghiên cứu mà nhiều năm sau mới tạo nên đột phá.

cover_baichanh.jpg
bg.png

Công nghệ bắt đầu từ một lớp học, nơi một học sinh say mê một bài toán vật lý; từ một giảng đường, nơi một sinh viên kiên trì tìm lời giải cho một bài toán tưởng như chưa có ứng dụng; hay từ một nhà khoa học bền bỉ theo đuổi một hướng nghiên cứu mà nhiều năm sau mới tạo nên đột phá.

bg.png

Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo ra những chuyển biến lớn đối với khoa học, công nghệ và giáo dục đại học Việt Nam, đồng thời đặt các trường đại học trước yêu cầu phải thay đổi tư duy, chuyển mạnh sang mô hình đại học nghiên cứu, gắn đào tạo với khoa học, công nghệ và những sản phẩm tạo ra giá trị thực tiễn.

Theo GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, muốn làm chủ công nghệ, trước hết phải làm chủ tri thức; muốn xây dựng năng lực công nghệ quốc gia phải có khoa học cơ bản mạnh làm nền tảng, kết hợp chặt chẽ với môi trường đào tạo và nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật, nghiên cứu phát triển R&D.

gstrinh.png
GS.TS Chử Đức Trình

Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân về những yêu cầu mới đặt ra đối với giáo dục đại học khi triển khai Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, GS.TS Chử Đức Trình cho rằng, bên cạnh đổi mới chương trình đào tạo, quản trị đại học và tăng cường liên kết với doanh nghiệp, Việt Nam cần đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản, xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh và đặc biệt chú trọng phát hiện, đào tạo, nuôi dưỡng tài năng trẻ.

Công nghệ chiến lược không bắt đầu từ nhà máy, phải bắt đầu từ phòng thí nghiệm

Việt Nam đang đặt mục tiêu từng bước làm chủ công nghệ nguồn, công nghệ cốt lõi và những công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, robot, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học... Theo Giáo sư, khoa học cơ bản có vai trò như thế nào đối với năng lực làm chủ những công nghệ này?

Thế giới bước vào giai đoạn cạnh tranh quyết liệt về công nghệ, năng lực làm chủ các công nghệ cao, công nghệ chiến lược đang trở thành thước đo sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia.

Học viên chương trình V-STT tham gia chế tạo và khảo sát linh kiện bán dẫn trong phòng thí nghiệm

Từ trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, robot thông minh đến vật liệu tiên tiến và công nghệ sinh học, những lĩnh vực này đang định hình lại nền kinh tế, xã hội và cả an ninh quốc gia.

Trong cuộc đua đó, Việt Nam không thể chỉ là nơi ứng dụng hay sản xuất công nghệ. Chúng ta phải từng bước làm chủ các công nghệ nguồn, công nghệ cốt lõi và những công nghệ chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển đất nước. Chúng ta phải tham gia và trở thành những mắt xích quan trọng, có giá trị gia tăng cao của các chuỗi công nghiệp công nghệ cao toàn cầu.

Nhưng muốn làm chủ công nghệ, trước hết phải làm chủ tri thức. Muốn xây dựng năng lực công nghệ quốc gia phải có khoa học cơ bản mạnh. Muốn có những đột phá công nghệ phải bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản và từ việc phát hiện, nuôi dưỡng những tài năng trẻ.

PGS. TS. Mai Anh Tuấn Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN giới thiệu sản phẩm “Chip sinh học, ISFET” cho sinh viên

Công nghệ chiến lược không bắt đầu từ nhà máy, phải bắt đầu từ phòng thí nghiệm.

Và sâu xa hơn nữa, công nghệ bắt đầu từ một lớp học, nơi một học sinh say mê một bài toán vật lý; từ một giảng đường, nơi một sinh viên kiên trì tìm lời giải cho một bài toán tưởng như chưa có ứng dụng; hay từ một nhà khoa học bền bỉ theo đuổi một hướng nghiên cứu mà nhiều năm sau mới tạo nên đột phá.

Giáo sư Richard Feynman - nhà vật lý đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1965 - người là thần tượng của tôi từ những năm sinh viên cho đến hôm nay, từng nói: “There is plenty of room at the bottom” (ở những quy luật cơ bản nhất của tự nhiên vẫn còn vô vàn không gian cho những khám phá mới). Thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị: muốn tạo ra công nghệ mới, con người phải hiểu thật sâu những quy luật cơ bản của tự nhiên.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ quan sát cấu trúc chip trong quá trình chế tạo và thử nghiệm tại phòng thí nghiệm

Hãy nhìn vào chiếc điện thoại thông minh mà chúng ta đang sử dụng mỗi ngày. Giá trị của nó không chỉ nằm ở thương hiệu, mà được tạo nên từ hàng nghìn phát minh tích lũy qua nhiều thập kỷ trong toán học, vật lý, khoa học vật liệu, điện tử và trí tuệ nhân tạo. Không một công nghệ đột phá nào được tạo ra trong một sớm một chiều. Mỗi con chip bán dẫn mới là kết tinh của hàng triệu giờ nghiên cứu cơ bản được tích lũy qua nhiều thập kỷ.

Đó là cách mọi công nghệ làm thay đổi thế giới ra đời. Và đó cũng là con đường Việt Nam đang lựa chọn.

Đại học nghiên cứu – nơi khởi nguồn của những công nghệ làm thay đổi thế giới

Giáo sư cho rằng “Công nghệ chiến lược không bắt đầu từ nhà máy. Nó bắt đầu từ phòng thí nghiệm”. Vậy các đại học nghiên cứu giữ vị trí như thế nào trong hệ sinh thái phát triển công nghệ chiến lược và năng lực sáng tạo của một quốc gia?

Điều đó gợi mở một câu hỏi quan trọng hơn: nếu công nghệ bắt đầu từ khoa học, thì khoa học bắt đầu từ đâu?

Câu trả lời của lịch sử rất nhất quán. Những hệ sinh thái công nghệ thành công nhất đều được xây dựng quanh các đại học nghiên cứu mạnh.

Silicon Valley không bắt đầu từ các khu công nghiệp mà từ Stanford và UC Berkeley. Chính các trường đại học này đã tạo ra tri thức mới, công nghệ nền tảng và những doanh nghiệp làm thay đổi thế giới.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy phát triển công nghệ chiến lược đòi hỏi đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản, xây dựng trường đại học nghiên cứu xuất sắc, trường đại học tinh hoa, phát triển doanh nghiệp công nghệ và hình thành một hệ sinh thái nơi tri thức được lưu thông, nhà khoa học được khuyến khích sáng tạo và doanh nghiệp có thể nhanh chóng chuyển hóa nghiên cứu thành sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với một niềm tin rất rõ ràng: nếu muốn đi nhanh trong kỷ nguyên AI, bán dẫn và lượng tử, chúng ta không thể chỉ nhập khẩu công nghệ. Chúng ta phải đầu tư vào năng lực sáng tạo của chính mình.

Đầu tư cho tài năng hôm nay để tạo ra công nghệ cho ngày mai

Nếu khoa học cơ bản là nền móng của công nghệ chiến lược và đại học nghiên cứu là nơi tạo ra tri thức, theo Giáo sư, Việt Nam cần đầu tư cho phát hiện, đào tạo và nuôi dưỡng tài năng trẻ như thế nào để hiện thực hóa khát vọng làm chủ công nghệ?

Lịch sử khoa học thế giới cho thấy những bước nhảy vọt của mỗi quốc gia luôn bắt đầu từ nhân tài. Không có khoản đầu tư nào mang lại giá trị lâu dài hơn đầu tư cho giáo dục, khoa học và công nghệ.

PGS.TS Lê Đình Anh nhận Giải thưởng Nguyễn Văn Đạo dành cho Tài năng Cơ học trẻ năm 2026

Khát vọng làm chủ công nghệ chiến lược của Việt Nam sẽ không thể thành hiện thực nếu thiếu những học sinh dám theo đuổi khoa học cơ bản, những sinh viên tài năng lựa chọn kỹ thuật và công nghệ và những nhà khoa học trẻ sẵn sàng chinh phục các lĩnh vực mới.

Có ý kiến cho rằng tương lai của AI, bán dẫn hay công nghệ lượng tử sẽ được quyết định trong những nhà máy lớn nhất thế giới.

Tôi lại tin rằng nó được quyết định sớm hơn rất nhiều như: Trong những phòng thí nghiệm; trong những lớp học; trong những đại học nghiên cứu và trên hết, trong khát vọng khám phá của những người trẻ dám theo đuổi khoa học.

Nếu chúng ta đầu tư đúng cho họ hôm nay, họ sẽ tạo ra những công nghệ định hình thế giới của ngày mai. Đó cũng chính là định hướng mà Việt Nam đang kiên định theo đuổi thông qua các chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân tài.

Sức ép thay đổi tư duy đối với các trường đại học

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu chuyển từ tư duy “hoàn thành đầu việc” sang “tạo ra sản phẩm đầu ra”, kết quả cuối cùng phải được đo bằng công nghệ làm chủ, sản phẩm tạo ra hay giá trị mang lại cho người dân và doanh nghiệp. Theo Giáo sư, yêu cầu này đang tạo ra những thay đổi và sức ép như thế nào đối với các trường đại học?

Sau một thời gian triển khai, nhìn tổng kết lại, Nghị quyết 57 đã tạo ra những tác động rất lớn đối với nền khoa học và công nghệ Việt Nam. Trước đây, chúng ta thường thấy các doanh nghiệp FDI đến Việt Nam chủ yếu để khai thác thị trường nhân công giá rẻ và tận dụng các chính sách ưu đãi, từ đó thúc đẩy đất nước trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về các ngành công nghiệp lớn như dệt may.

Hoàng Đăng Khoa_ Sinh viên UET giành giải Nhất tại Viettel Digital Talent 2025 với dự án định vị cho thiết bị bay quốc phòng

Làm sao để gia tăng giá trị này? Con đường duy nhất chính là triết lý cốt lõi của Nghị quyết 57: coi khoa học và công nghệ là trụ cột phát triển, nhằm nâng cao giá trị của toàn ngành công nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung. Đồng hành với xu thế đó, chúng ta có thể nhận thấy lĩnh vực công nghệ thông tin đang phát triển rất mạnh mẽ nhờ ứng dụng chuyển đổi số. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, chúng ta cần có thời gian và một định vị mang tính hệ thống, tổng thể thì mới có thể thành công.

Đối với các trường đại học, có hai bài toán cần nhìn nhận: Trong góc nhìn địa phương ngắn hạn, Nghị quyết 57 tác động gì đến trường đại học? Và các trường đại học phải làm gì trong chính hoạt động của mình để đáp ứng tinh thần của Nghị quyết này?

Thực tế cho thấy, Nghị quyết 57 đã tạo ra những tác động và chuyển biến rất lớn đối với hệ thống giáo dục đại học. Nhiều nhà trường đang tập trung nguồn lực xây dựng để dịch chuyển sang mô hình đại học nghiên cứu, điển hình như Trường Đại học Công nghệ chúng tôi.

Ngày 19-7-2026, sinh viên Trường Đại học Công nghệ giành giải Nhất Vietnam AI Innovation Challenge (VAIC) 2026 nhận giải thưởng trị giá 10.000 USD

Tuy nhiên, bức tranh chung hiện nay cho thấy nhiều trường vẫn chỉ đang tập trung vào công tác giảng dạy thuần túy. Bên cạnh đó, tiến trình chuyển đổi số tại nhiều cơ sở giáo dục còn chậm và thiếu tính đồng bộ. Chính thực trạng này đã đặt ra một sức ép không nhỏ, buộc lãnh đạo các trường đại học phải thay đổi tư duy và quyết liệt hơn trong các chính sách đầu tư.

Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71 đều đặt các trường đại học vào vị trí quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học, công nghệ. Với một trường đi theo định hướng đại học nghiên cứu như Trường Đại học Công nghệ, nhà trường đã có những thay đổi cụ thể nào để đáp ứng yêu cầu mới, thưa Giáo sư?

Với Trường Đại học Công nghệ, một trong những đơn vị đi theo định hướng nghiên cứu nên thời gian vừa qua trường đã cải tổ nhiều hoạt động và chương trình khác nhau để đáp ứng yêu cầu mới. Trường Đại học Công nghệ đã xây dựng và vận hành triết lý, chiến lược hoạt động mới, chiến lược One UET, hướng đến một Trường Đại học Công nghệ tinh hoa của cả nước và khu vực.

GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN nói về vận hành triết lý, chiến lược hoạt động mới, chiến lược One UET, hướng đến một Trường Đại học Công nghệ tinh hoa của cả nước và khu vực

Tại Trường Đại học Công nghệ, ONE UET không phải là một khẩu hiệu, đó là nguyên tắc quản trị và vận hành cốt lõi của Nhà trường. Dù thuộc khoa nào, viện nào hay chương trình đào tạo nào, hoạt động nghiên cứu, quản trị nào mọi người học, giảng viên và đối tác đều trải nghiệm cùng một bản sắc và cùng một chuẩn chất lượng xuất sắc UET.

Về đào tạo, Nhà trường đã thiết kế lại toàn bộ các chương trình đào tạo, lấy chương trình của các trường đại học công nghệ top đầu thế giới, như các đại học Ivyleague, làm tham chiếu để so sánh chất lượng, chuẩn đầu ra về kiến thức và kỹ năng, cũng như học hỏi mô hình vận hành quản trị của các đại học này.

Sinh viên UET thực hành tại phòng thực tập kỹ thuật Điện tử & Số

Bên cạnh xây dụng hệ thống phòng thực hành, phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu cao của các chương trình đào tạo công nghệ, kỹ thuật, Nhà trường đã xây dựng Hệ thống quản trị thông tin (MIS), giúp các thầy cô giám sát chặt chẽ quá trình học tập của sinh viên, đồng thời người học cũng dễ dàng theo dõi chương trình đào tạo của mình.

Hệ thống MIS của Nhà trường cho phép tất cả các bên liên quan tương tác, trao đổi và vận hành trên một hệ thống quản trị số. Hệ thống cho phép tối ưu hoá vận hành toàn hệ thống gắn với minh bạch, trách nhiệm các bên liên quan, và tăng cường công tác đảm bảo chất lượng. Hệ thống quản trị hành chính tập trung của UET cho phép các thầy cô giáo, người học cơ bản được giải phóng khỏi các việc hành chính, tập trung tối đa thời gian và sáng tạo cho các nhiệm vụ đào tạo, học tập và nghiên cứu khoa học. Đội ngũ quản trị hành chính được tinh gọn tối đa và làm việc với tinh thần phục vụ chuyên nghiệp.

Trường Đại học Công nghệ ký kết thoả thuận hợp tác nghiên cứu với Công ty IMRA, Nhật Bản về phát triển pin mặt trời perovskite không chứa chì

Hệ thống các phòng thí nghiệm nghiên cứu cũng được tập trung quản trị bởi một đầu mối, Trung tâm phòng thí nghiệm chung. Các thầy cô, nhà khoa học, và người học triển khai các nghiên cứu với nền tảng hệ thống máy móc, trang thiết bị hạ tầng luôn được kiểm soát chất lượng tối ưu.

Hệ thống quản trị phòng thí nghiệm chung cho phép nâng cao hiệu suất khai thác hệ thống và mở ra cơ hội hợp tác nghiên cứu với các doanh nghiệp khoa học, công nghệ trong nước và quốc tế. Nếu hệ thống này được đầu tư và vận hành hiệu quả, nó còn là nền tảng phát triển hệ sinh thái các doanh nghiệp khởi nghiệp, spin-off của Nhà trường.

Đổi mới đào tạo để sinh viên không “ra trường đã lạc hậu”

AI, bán dẫn, dữ liệu lớn và các công nghệ chiến lược đang thay đổi với tốc độ rất nhanh, trong khi chương trình đại học thường cần nhiều năm để điều chỉnh. Theo Giáo sư, các trường cần thay đổi nội dung đào tạo, quản trị và chính sách phát triển người học như thế nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực?

Vai trò của hệ thống Giáo dục - Đào tạo là kiến tạo nên những con người có năng lực dẫn dắt trong lĩnh vực khoa học công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động. Để làm được điều đó, các trường nên chủ động thay đổi nội dung giảng dạy, văn hóa học đường cũng như nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Đồng hành với quá trình này phải là sự minh chứng về năng lực, đi cùng cơ chế công khai, minh bạch rõ ràng.

Tại Trường Đại học Công nghệ, Nhà trường quyết định miễn học phí và cấp học bổng hằng tháng cho toàn bộ học viên cao học và nghiên cứu sinh. Theo đó, mỗi học viên cao học được nhận học bổng 5 triệu đồng/tháng; mỗi nghiên cứu sinh làm việc toàn thời gian tại trường được hỗ trợ sinh hoạt phí 7 triệu đồng/tháng. Đội ngũ sinh viên sau đại học tại Trường Đại học Công nghệ, mặt nào đó, được coi như những người đi làm, thay vì chỉ coi như những người học. Học viên cao học và nghiên cứu sinh được tham gia rất sâu vào các hoạt động chung về đào tạo và nghiên cứu của Nhà trường.

Trường Đại học Công nghệ kết hợp với Bệnh viện Bạch Mai phát triển hệ thống AI chẩn đoán sớm ung thư phổi

Bên cạnh chính sách thu hút nhân tài, nhà trường cũng luôn đồng hành với chính sách không để ai bị bỏ lại phía sau. Nhà trường thường xuyên mở các lớp học bổ túc thêm vào buổi tối, hoàn toàn miễn phí, dành cho những sinh viên có năng lực học tập còn yếu. Tại đây, những sinh viên có thành tích xuất sắc sẽ trực tiếp hỗ trợ, phụ đạo cho các bạn có lỗ hổng về mặt kiến thức. Khi xây dựng được mô hình quản trị và phân bổ nhân lực rõ ràng, chúng ta có thể theo dõi sát sao kết quả học tập để từ đó kịp thời thúc đẩy các sinh viên chưa đạt thành tích cao.

Kết quả thực tế cho thấy, tỷ lệ sinh viên yếu kém bị buộc thôi học đã giảm rõ rệt, khẳng định hiệu quả vượt trội trong việc nâng cao chất lượng đào tạo từ việc ứng dụng chuyển đổi số vào công tác quản trị.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng đề cập đến việc cần phải tăng cường quyền tự chủ đại học trong thời gian tới. Cơ chế này không chỉ tạo điều kiện cho các trường chủ động đổi mới sáng tạo, mà còn định hình nên một thế hệ trẻ mới mang tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chọn việc khó, thách thức lớn để hướng đến những thành công lớn.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ thực tập LG Display Hải Phòng
Trường ĐH Công nghệ cùng Samsung VN phát triển Dự án “Phát triển nhận diện ROI để mã hóa video hiệu quả” - Chủ nhiệm_ PGS.TS. Hoàng Văn Xiêm

Để nghiên cứu không dừng lại trong phòng thí nghiệm

Một trong những yêu cầu quan trọng của Nghị quyết 57 là nâng cao hiệu quả nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ. Theo Giáo sư, làm thế nào để liên kết giữa đại học và doanh nghiệp thực sự tạo ra những dự án, sản phẩm được ứng dụng vào thực tế? Đâu là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để giải phóng sức sáng tạo của các nhà khoa học?

Để hiện thực hóa điều này, thời gian qua Trường Đại học Công nghệ đã mở rộng hợp tác chiến lược với các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước như Samsung, LG, Toshiba, Imra, Viettel, VNPT, FPT. Sự gắn kết này đã mang lại nhiều thành công với các dự án nghiên cứu được ứng dụng thiết thực vào thực tế. Nhiều kết quả nghiên cứu cơ bản và công nghệ của Nhà trường đã được đưa vào thực tế, nâng cao hiệu quả hoạt động rõ rệt của các doanh nghiệp đối tác. Các hoạt động này cũng nâng cao vị thế, tinh thần và động lực của thầy và trò toàn trường.

GS.TS. Chử Đức Trình – Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ và ông Na Ki Hong – Tổng Giám đốc Samsung Việt Nam ký kết thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026–2028
Trường Đại học Công nghệ ký kết thỏa thuận hợp tác về phát triển nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học với Viện Quantum AI & Cyber security, Tập đoàn FPT

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc giải ngân cho các dự án công nghệ hiện nay còn gặp nhiều khó khăn về cơ chế và quy định. Ngoài ra, năng lực của các chuyên gia cần phải nhận được giá trị đãi ngộ tương đương. Hiện tại chúng ta đang gặp vướng mắc trong việc chi trả lương cho nhân sự; trong khi nguyên tắc là trách nhiệm càng lớn thì lương phải càng cao. Rất mong thời gian tới, chúng ta sẽ nhanh chóng hoàn thiện được hệ thống các văn bản cho phép đẩy mạnh tinh thần kiến tạo trong bối cảnh khoa học công nghệ mới của đất nước. Nếu chúng ta có thể khắc phục được những bất cập về thủ tục hành chính này, giải phóng sức sáng tạo để kiến tạo nên nhiều giá trị hơn cho đất nước.

Thước đo thành công của đất nước là thúc đẩy tăng trưởng GDP và đặc biệt là năng lực chiếm lĩnh thị trường quốc tế. Các sản phẩm “Made in Vietnam”, “Made by Vietnam” cần phải được biết đến một cách rộng rãi hơn. Thực tế cho thấy, mô hình phát triển văn hóa của Nhật Bản hay Hàn Quốc - thông qua việc kiến tạo các trào lưu lớn như J-pop hay K-pop đã và đang tạo ra những tác động vô cùng mạnh mẽ, đóng góp lớn vào nền kinh tế của quốc gia họ. Trong bối cảnh này, chúng ta càng có nhiều áp lực phải đưa văn hoá Việt, sản phẩm Việt đến rộng rãi trên thị trường quốc tế.

– Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Hồng Hạnh - Duy Thông

Hồng Hạnh - Duy Thông