Kinh tế

Kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để Việt Nam bứt phá

TS. Nguyễn Hoàng Hiệp - Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng 01/08/2026 06:47

Khi cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn và kinh tế số, Nghị quyết số 57-NQ/TW mở ra lộ trình đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới của Việt Nam. Thông điệp xuyên suốt là chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm

Thế giới đang bước vào làn sóng chuyển đổi sâu rộng, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố sức mạnh quốc gia. Các quốc gia đều ưu tiên đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an ninh kinh tế và tăng cường vị thế địa chính trị.

minh-hoa20251013183328-17652803546102067309591-1775219251591-17752192522512040499531.jpg
Nguồn: mst.gov.vn

Khi trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn và kinh tế số đã trở thành những động lực tăng trưởng chủ đạo của nhiều nền kinh tế hàng đầu, việc triển khai thành công Nghị quyết số 57-NQ/TW được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt để Việt Nam bứt phá. Cơ chế, chính sách và lộ trình thực hiện Nghị quyết giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được xây dựng với thông điệp xuyên suốt là chuyển mạnh từ tư duy quản lý khoa học và công nghệ sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm trên 60%; kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP; tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo… Xa hơn, đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; có ít nhất 10 “kỳ lân công nghệ” và thu hút thêm ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam… Đây là những định hướng chiến lược quan trọng của Nghị quyết số 57-NQ/TW; mà nếu đạt được thì sẽ là nền tảng để Việt Nam chuyển từ một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực trong tương lai.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đầy tham vọng này, điều quan trọng không chỉ là tăng nguồn lực đầu tư mà còn phải thay đổi căn bản mô hình phát triển và phương thức tổ chức thực hiện. Trọng tâm là chuyển từ tư duy Nhà nước trực tiếp dẫn dắt hoạt động khoa học và công nghệ sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của nhiều chủ thể. Trong đó, điểm nhấn đáng chú ý nhất trong mô hình này là sự phân vai rõ ràng giữa các chủ thể. Nhà nước không còn "làm thay" mà chuyển sang kiến tạo thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi; doanh nghiệp được xác định là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; các viện nghiên cứu, trường đại học là nguồn cung tri thức và công nghệ; người dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển.

Thể chế mở đường, nguồn lực tạo đột phá

Để mô hình "Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm" vận hành hiệu quả, cần một hệ thống chính sách đủ mạnh để tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và nhân lực.

Theo đó, về thể chế, ưu tiên hàng đầu là xây dựng Luật Công nghệ chiến lược. Mặc dù Luật Công nghiệp công nghệ số đã được ban hành song phạm vi điều chỉnh vẫn chưa bao quát các lĩnh vực công nghệ lõi đang định hình năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, cần một đạo luật chuyên sâu hơn, quy định về AI, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, dữ liệu, an ninh công nghệ, công nghệ sinh học, cùng các cơ chế ưu đãi đầu tư và thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) theo thông lệ quốc tế. Đồng thời, cần cải cách cơ chế quản lý hoạt động nghiên cứu theo kết quả đầu ra và hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ. Đồng thời, triển khai cơ chế "sandbox" (khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát) đối với các lĩnh vực như AI, công nghệ tài chính (Fintech), blockchain, thiết bị bay không người lái (drone) dân sự, y tế số và giáo dục số, qua đó tạo không gian thử nghiệm cho các công nghệ mới trước khi nhân rộng.

Về nguồn lực tài chính, dù hiện đã có một số quỹ đổi mới công nghệ quốc gia song quy mô và cơ chế hoạt động vẫn chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW. Vì vậy, cần thành lập Quỹ Đổi mới sáng tạo Quốc gia với quy mô vốn đủ lớn, hoạt động theo mô hình đầu tư đồng hành (co-investment), vừa tài trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), vừa đầu tư vốn mồi cho các công nghệ chiến lược như AI, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử và vật liệu mới. Để tiệm cận thông lệ quốc tế, Quỹ cần được thiết kế với cơ chế huy động vốn đa dạng, mô hình quản trị minh bạch, tiêu chí lựa chọn dự án rõ ràng và phương thức đầu tư phù hợp nhằm tạo động lực cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển.

Bên cạnh đó, cần mở rộng ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp đầu tư cho R&D, phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm theo mô hình hợp tác công - tư; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng đổi mới sáng tạo, AI và chuyển đổi số để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, Chính phủ tiếp tục có chính sách thu hút các tập đoàn công nghệ quốc tế đầu tư vào AI, công nghiệp bán dẫn và trung tâm dữ liệu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển công nghệ. Cần tập trung đào tạo 100.000 chuyên gia AI và 50.000 kỹ sư bán dẫn, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm tham gia đầu tư, nghiên cứu, hoạch định chính sách và giảng dạy tại các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước.

Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế; đồng thời xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá kết quả (KPIs) và cơ chế giám sát việc thực hiện. Việc quản lý theo kết quả không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

Suy cho cùng, thành công của Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: sự nhất quán trong tổ chức thực hiện, khả năng huy động nguồn lực xã hội - đặc biệt từ khu vực tư nhân - và quyết tâm cải cách thể chế. Nếu hội tụ được những điều kiện đó, mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo vào năm 2045 hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa.

TS. Nguyễn Hoàng Hiệp - Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng