Quốc tế

Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22:Cụ thể hóa nhiệm vụ, tạo xung lực đưa Nghị quyết 06 vào cuộc sống

Quỳnh Vũ thực hiện 01/08/2026 06:02

Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy đối ngoại phục vụ phát triển sang đối ngoại đồng hành, kiến tạo không gian và trực tiếp tạo động lực phát triển. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22, diễn ra từ ngày 1-7/8, sẽ là bước triển khai quan trọng, góp phần thống nhất nhận thức, cụ thể hóa nhiệm vụ và tạo xung lực đưa Nghị quyết 06 vào cuộc sống, qua đó phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Đó là khẳng định của PGS.TS HÀ ANH TUẤN, Quyền Trưởng khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao, Học viện Ngoại giao trong cuộc trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân trước thềm Hội nghị.

1785480190876_4028646070402331119_4028646070402331119_cb7af09460952c93ffb3bc55efbab729.jpg
PGS.TS Hà Anh Tuấn, Quyền Trưởng khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao, Học viện Ngoại giao trả lời phỏng vấn Báo Đại biểu Nhân dân

4 bước chuyển của tư duy đối ngoại mới đến thực tiễn triển khai

- Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị được đánh giá là đã cụ thể hóa nhiều nội dung mới của Nghị quyết Đại hội XIV về đối ngoại. Ông có thể nói rõ hơn về những điểm mới của nghị quyết?

- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị là văn kiện chiến lược để triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng; chuyển hóa những định hướng của Đại hội XIV thành những yêu cầu cụ thể đối với hoạt động đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Theo tôi, bốn vấn đề đáng chú ý gồm:

Thứ nhất, nghị quyết đặt nhiệm vụ đối ngoại trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia; coi đối ngoại là một động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia. Đây là bước chuyển từ tư duy đối ngoại phục vụ phát triển sang đối ngoại đồng hành và tạo lập không gian phát triển. Tất nhiên, đối ngoại luôn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền và giữ vững môi trường quốc tế và khu vực hòa bình, đảm bảo không gian phát triển đất nước.

Thứ hai, nghị quyết mở rộng đối tượng phục vụ của đối ngoại. Người dân, địa phương và doanh nghiệp hiện được xác định là những đối tượng thụ hưởng trung tâm của hoạt động đối ngoại. Đây là sự thay đổi quan trọng về tư duy quản trị, hướng tới nâng cao hiệu quả phục vụ và tạo ra giá trị thực chất cho phát triển.

Thứ ba, điểm mới rất đáng chú ý là Nghị quyết 06 lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện lý luận về đối ngoại Việt Nam như một yêu cầu độc lập. Điều này cho thấy Đảng nhấn mạnh vai trò của phát triển lý luận để dẫn dắt thực tiễn trong bối cảnh môi trường quốc tế đang thay đổi sâu sắc. Việc xây dựng một hệ thống lý luận đối ngoại hiện đại, phản ánh đúng đặc điểm của thời đại và điều kiện phát triển của Việt Nam sẽ là nền tảng quan trọng để nâng tầm đối ngoại, nâng cao năng lực hoạch định chính sách, dự báo chiến lược và tham gia định hình các vấn đề quốc tế.

Thứ tư, nghị quyết đề cao yêu cầu xây dựng nền ngoại giao hiện đại, chuyên nghiệp, toàn diện và chuyển đổi số mạnh mẽ, gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ và văn hóa.

Nhìn tổng thể, Nghị quyết 06 phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy ứng phó sang tư duy kiến tạo; từ coi đối ngoại là công cụ sang coi đối ngoại là một nguồn lực phát triển chiến lược của đất nước.

- Tư duy mới đã được thể hiện qua thực tế hoạt động đối ngoại của Việt Nam nửa năm qua như thế nào, thưa ông?

- Trong nửa đầu năm 2026, có thể thấy tư duy mới đã được thể hiện khá rõ trên ba phương diện chính.

Trước hết là sự chủ động và linh hoạt trong xử lý quan hệ với các đối tác lớn và các trung tâm quyền lực quốc tế. Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển các mối quan hệ chiến lược, mở rộng hợp tác với nhiều đối tác khác nhau, đồng thời kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Điều này giúp Việt Nam vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài, vừa giữ được dư địa chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt.

Thứ hai là sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa đối ngoại với phát triển kinh tế. Các hoạt động ngoại giao cấp cao đều hướng mạnh vào thúc đẩy thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này cho thấy đối ngoại đang được triển khai theo hướng tạo ra các lợi ích phát triển cụ thể.

Thứ ba là sự quan tâm nhiều hơn đến địa phương và doanh nghiệp. Hoạt động xúc tiến đầu tư, kết nối thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng chuỗi cung ứng, thúc đẩy hợp tác giữa các địa phương với đối tác nước ngoài được đẩy mạnh hơn trước. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy công tác đối ngoại đang ngày càng hướng tới phục vụ trực tiếp các chủ thể phát triển.

Đối ngoại phục vụ phát triển: Người dân, địa phương và doanh nghiệp phải là trung tâm

- Nghị quyết 06 khẳng định việc lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ nhằm chuyển đổi tư duy đối ngoại từ bảo vệ sang kiến tạo phát triển, đưa ngoại giao gắn sát với nhu cầu thực tiễn của đất nước. Theo ông, để hiện thực hóa mục tiêu đưa đối ngoại thực sự trở thành động lực phát triển đất nước, Việt Nam cần tập trung vào những ưu tiên nào trong thời gian tới?

- Theo tôi, chúng ta cần tập trung vào bốn ưu tiên lớn. Đầu tiên là chúng ta cần xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan đối ngoại với các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Đối ngoại chỉ phát huy hiệu quả khi trở thành một bộ phận hữu cơ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách phát triển.

Tiếp đến là chuyển từ kết nối, thiết lập quan hệ sang cung cấp dịch vụ công đối ngoại. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng vai trò tích cực hơn trong cung cấp thông tin thị trường, kết nối đối tác, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý rào cản thương mại, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân và doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài.

Đặc biệt, cần nâng cao năng lực dự báo chiến lược. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, đối ngoại cần giúp Chính phủ, địa phương và doanh nghiệp nhận diện sớm các xu hướng về thương mại, công nghệ, chuỗi cung ứng, chuyển đổi năng lượng và các rủi ro địa chính trị để có sự chuẩn bị phù hợp.

Cuối cùng, cần đầu tư cho nguồn nhân lực và chuyển đổi số trong ngành đối ngoại, tăng cường phát huy vai trò của dữ liệu trong việc ra quyết sách. Công nghệ và đội ngũ cán bộ có năng lực hội nhập quốc tế là các nhân tố then chốt.

Việc thực hiện tốt những ưu tiên này góp phần mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam, đồng thời trực tiếp tạo ra các cơ hội phát triển cho người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Từ "tham gia luật chơi" sang "góp phần định hình luật chơi"

- Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và trật tự thế giới tiếp tục tái định hình, đâu sẽ là những lợi thế nổi bật để Việt Nam không chỉ thích ứng mà còn chủ động đóng góp vào việc định hình các luật chơi và sáng kiến hợp tác quốc tế?

- Việt Nam có một số lợi thế quan trọng để đóng góp tích cực hơn vào việc định hình các luật chơi và sáng kiến hợp tác quốc tế.

Trước hết là đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường và nhất quán. Đây là nền tảng giúp Việt Nam duy trì quan hệ tốt với nhiều đối tác khác nhau, tạo được niềm tin và uy tín trong cộng đồng quốc tế.

Thứ hai là vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong tham gia các cơ chế đa phương, thực hiện các hiệp định thương mại thế hệ mới và đóng góp vào các vấn đề khu vực, toàn cầu. Đây là cơ sở để tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng các chuẩn mực và cơ chế hợp tác mới.

Thứ ba là khả năng kết nối giữa các khu vực và các đối tác. Với vị trí địa chiến lược, nền kinh tế mở và mạng lưới quan hệ quốc tế rộng, Việt Nam có điều kiện trở thành cầu nối trong các sáng kiến về thương mại, chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hợp tác biển.

Tuy nhiên, để chuyển các lợi thế này thành ảnh hưởng thực chất, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn vào năng lực nghiên cứu chính sách, dự báo chiến lược, xây dựng sáng kiến và đóng góp tri thức cho các diễn đàn quốc tế.

Hội nghị có ý nghĩa quan trọng, xác lập tâm thế mới cho ngành ngoại giao

- Trong bối cảnh trên, Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần thứ 33 và Hội nghị Ngoại vụ lần thứ 22 khai mạc hôm nay, 1/8, sẽ có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?

- Từ ngày 1 đến 7/8, sẽ diễn ra 2 sự kiện quan trọng: Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22, với chủ đề "Phát huy vai trò tiên phong, thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Theo tôi, đây là những sự kiện có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành ngoại giao bởi đây sẽ là hội nghị đầu tiên sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, sau khi Nghị quyết 06 được ban hành, cũng là Hội nghị đầu tiên của ngành ngoại giao trong kỷ nguyên vươn mình, phát triển thịnh vượng của dân tộc.

Tại Hội nghị, nhiều vấn đề mới sẽ được đưa vào chương trình nghị sự, bao gồm: ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao đồng hành cùng doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài...

Hội nghị này sẽ đóng vai trò quan trọng trong thống nhất nhận thức chung rằng đối ngoại là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và các địa phương. Đối ngoại cần được lồng ghép ngay từ quá trình xây dựng chiến lược phát triển.

Hội nghị sẽ tạo xung lực thúc đẩy việc triển khai Nghị quyết 06 trên cơ sở xác định rõ mục tiêu, phân công trách nhiệm, cơ chế phối hợp và tiêu chí đánh giá kết quả. Đối ngoại chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi hiệu quả được đo bằng những kết quả cụ thể như mở rộng thị trường, thu hút đầu tư chất lượng cao, tiếp cận công nghệ, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Với Nghị quyết 06 - vốn cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIV, chúng ta đã có chủ trương chính sách đối ngoại đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của kỷ nguyên mới. Tôi cũng kỳ vọng Hội nghị lần này sẽ góp phần hình thành chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu mới. Ngoài các năng lực chuyên môn về ngoại giao, thế hệ cán bộ đối ngoại mới còn cần hiểu biết sâu về kinh tế, khoa học - công nghệ, luật pháp quốc tế, quản trị toàn cầu và khả năng phối hợp liên ngành.

- Xin cảm ơn ông!


Quỳnh Vũ thực hiện