Chính trị

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV:Từ nghị quyết đến những đổi thay người dân có thể cảm nhận được

PGS.TS Bùi Hoài Sơn 30/07/2026 17:10

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ làm rõ những nội dung cần nhận thức thống nhất, mà còn đặt ra một yêu cầu có tính quyết định: mọi chủ trương đúng đắn phải được chuyển hóa thành công việc cụ thể, sản phẩm đo đếm được và những thay đổi thiết thực trong đời sống Nhân dân.

Đó là lời hiệu triệu về trách nhiệm, kỷ luật và năng lực thực thi trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Không để nghị quyết dừng lại ở văn bản, hội nghị

Mỗi nghị quyết của Đảng đều chứa đựng những định hướng lớn, những lựa chọn chiến lược và kỳ vọng phát triển của đất nước. Từ chủ trương đúng đến kết quả thực tế, điểm nghẽn nhiều khi nằm ở khả năng tổ chức thực hiện: ai làm, làm việc gì, làm trong thời hạn nào, bằng nguồn lực nào, sản phẩm cuối cùng là gì và ai phải chịu trách nhiệm nếu công việc chậm trễ hoặc không đạt yêu cầu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Ảnh: Hồ Long

Chính vì vậy, thông điệp nổi bật trong phát biểu tại Hội nghị ngày 29/7/2026 là yêu cầu phải chuyển mạnh từ quán triệt sang tổ chức thực hiện nghị quyết. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc triển khai phải “rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm”; coi chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị. Nhận thức phải được chuyển thành hành động, quyết tâm phải được chuyển thành kết quả.

Đây không chỉ là một yêu cầu về kỹ thuật quản lý, mà trước hết là một sự chuyển đổi về tư duy lãnh đạo và văn hóa thực thi. Trong một thời gian dài, ở một số nơi, việc triển khai nghị quyết vẫn có biểu hiện nặng về ban hành kế hoạch, tổ chức hội nghị, phân công hình thức, trong khi sản phẩm cuối cùng và tác động thực tế chưa được xác định rõ ràng. Có những nhiệm vụ được giao cho nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không có một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng; có những vấn đề được chuyển từ cấp dưới lên cấp trên rồi chờ đợi; cũng có nơi lấy lý do chưa có hướng dẫn, chưa có tiền lệ hoặc còn vướng cơ chế để trì hoãn việc đáng lẽ phải được giải quyết ngay.

Bài phát biểu đã trực diện chỉ ra những biểu hiện ấy và đặt ra yêu cầu không được hành chính hóa việc thực hiện nghị quyết, không lấy số lượng văn bản, kế hoạch và hội nghị thay cho kết quả. Mỗi chương trình hành động phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Quan trọng hơn, chương trình hành động phải mang “hơi thở, nhịp sống, đặc thù” của từng bộ, ngành, địa phương và cơ sở, chứ không thể là sự sao chép máy móc văn bản của cấp trên.

Tinh thần ấy cho thấy nghị quyết chỉ thực sự có sức sống khi được cụ thể hóa trong những điều kiện thực tiễn khác nhau. Mỗi địa phương có những lợi thế, khó khăn và điểm nghẽn riêng; mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có những yêu cầu quản trị và nguồn lực khác nhau. Vì vậy, thống nhất về mục tiêu và tư tưởng chỉ đạo không đồng nghĩa với đồng nhất về phương thức thực hiện. Điều quan trọng là phải tìm ra con đường phù hợp nhất để đưa chủ trương chung vào cuộc sống cụ thể của từng địa bàn, từng cộng đồng và từng nhóm đối tượng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Ảnh: Hồ Long

Cũng từ yêu cầu thực thi, bài phát biểu đặt ra cách phân loại công việc rất rõ ràng. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải được thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định rõ cơ quan thực hiện, thời hạn và sản phẩm cụ thể. Đối với những việc mới, khó, chưa có tiền lệ, cần làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực và cơ chế kiểm soát. Không thể lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn, nhưng cũng không được nóng vội, chủ quan và duy ý chí.

Đây là cách tiếp cận cân bằng giữa yêu cầu đổi mới và trách nhiệm kiểm soát quyền lực. Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều nhiệm vụ mới, không phải vấn đề nào cũng đã có sẵn mô hình hoặc quy định hoàn chỉnh. Nếu mọi cán bộ đều chỉ lựa chọn những việc an toàn, quen thuộc, có đầy đủ hướng dẫn thì rất khó tạo ra đột phá. Nhưng đổi mới không có nghĩa là tùy tiện; thí điểm không đồng nghĩa với buông lỏng nguyên tắc. Mọi sáng kiến đều phải hướng tới lợi ích chung, có giới hạn, có kiểm soát và được đánh giá bằng kết quả thực tế.

Vì thế, một thông điệp quan trọng khác của bài phát biểu là phải kết hợp hài hòa giữa kỷ luật nghiêm minh với khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Các quy định của Đảng không chỉ nhằm nhận diện và ngăn chặn vi phạm, mà còn giúp cán bộ tự soi, tự sửa, hiểu rõ giới hạn và thẩm quyền của mình để yên tâm đổi mới, cống hiến. Cần phân biệt rõ người dám đổi mới vì lợi ích chung với hành vi lợi dụng cơ chế thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa và bao che sai phạm.

Trong toàn bộ quá trình ấy, người đứng đầu giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo những việc lớn, việc khó, những điểm nghẽn kéo dài; phải kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, người dân và doanh nghiệp; phải quyết định theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm đến cùng. Không thể nhận thành tích khi công việc thành công nhưng lại đẩy trách nhiệm cho cấp dưới khi xảy ra trì trệ, yếu kém.

Nhìn rộng hơn, yêu cầu nâng cao chất lượng thực thi còn đòi hỏi phải nhận thức các quyết sách của Trung ương như một chỉnh thể thống nhất. Xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy, phát triển kinh tế, quản trị đất đai và tài nguyên, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo vệ môi trường không phải là những lĩnh vực đứng tách biệt. Chúng liên thông, tác động và bổ sung cho nhau. Một khâu chậm, một lĩnh vực yếu hoặc một nguồn lực bị chia cắt đều có thể ảnh hưởng đến kết quả chung.

Các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh: Hồ Long

Bởi vậy, trong quản trị không gian và nguồn lực phát triển, cần vượt qua tư duy cục bộ theo địa giới, ngành, lĩnh vực và nhiệm kỳ. Mỗi địa phương phải được đặt trong tổng thể liên kết vùng; mỗi nguồn lực phải được xem xét trong lợi ích chung của quốc gia. Đất đai không chỉ là nguồn lực kinh tế mà còn là tài nguyên đặc biệt, là không gian sinh tồn và phát triển của Nhân dân. Phát triển kinh tế biển không chỉ hướng tới khai thác lợi ích trước mắt, mà phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống người dân, giữ vững chủ quyền và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh, giàu từ biển.

Như vậy, yêu cầu đưa nghị quyết vào cuộc sống không chỉ là làm nhanh hơn, mà phải làm đúng hơn, đồng bộ hơn và có trách nhiệm hơn. Đó là quá trình chuyển từ quản lý từng việc riêng lẻ sang quản trị tổng thể; từ tư duy nhiệm kỳ sang tầm nhìn dài hạn; từ việc hoàn thành quy trình sang tạo ra sản phẩm; từ báo cáo thành tích sang kiểm chứng bằng hiệu quả thực tế.

Lấy hiệu quả phục vụ, hạnh phúc Nhân dân làm thước đo

Nếu thông điệp thứ nhất của bài phát biểu là nâng cao kỷ luật và năng lực thực thi, thì thông điệp sâu xa hơn chính là xác định lại mục đích cuối của mọi hoạt động lãnh đạo, quản lý và phát triển: phục vụ Nhân dân, nâng cao chất lượng sống, mở rộng cơ hội phát triển và củng cố niềm tin xã hội.

Trong bài phát biểu, con người và Nhân dân không chỉ được nhắc đến như đối tượng thụ hưởng, mà được đặt ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đổi mới mô hình phát triển, vì vậy, không thể chỉ được hiểu là thay đổi cơ cấu kinh tế hay điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng. Đó còn là sự đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành những động lực chủ yếu; tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, từng địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người lao động, để mọi chủ thể đều có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Quan điểm này hàm chứa một nhận thức rất quan trọng: tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi thành quả phát triển được chuyển hóa thành cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người. Một nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng nếu khoảng cách xã hội gia tăng, môi trường sống bị tổn hại, người yếu thế phải gánh chịu những chi phí bất hợp lý, thì sự phát triển ấy chưa thể được coi là bền vững và nhân văn.

Bởi vậy, bài phát biểu yêu cầu hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng phải đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh. Không được đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt. Giá trị của nghị quyết phải được thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.

Các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh: Hồ Long

Đây chính là thước đo cuối và cũng là thước đo khó nhất. Niềm tin và sự hài lòng của người dân chỉ hình thành khi họ thực sự cảm nhận được những thay đổi trong đời sống hằng ngày: thủ tục đơn giản hơn, quyền lợi được bảo đảm tốt hơn, môi trường sống an toàn hơn, cơ hội học tập và việc làm rộng mở hơn, cán bộ gần dân và có trách nhiệm hơn.

Từ góc độ đó, yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo là một điểm nhấn có ý nghĩa rất lớn. Đặc biệt, trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã được xác định là tuyến đầu của quản trị công, nơi trực tiếp giải quyết các nhu cầu và công việc của người dân, doanh nghiệp. Cấp xã vì thế phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Trung ương tập trung vào chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung và các nguồn lực lớn; cấp tỉnh tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực và bảo đảm điều kiện; cấp xã trực tiếp đưa chính sách đến với cuộc sống.

Phân cấp, phân quyền chỉ có ý nghĩa khi đi cùng nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và cơ chế kiểm soát quyền lực. Không thể giao thêm trách nhiệm cho cấp dưới mà không bảo đảm đủ điều kiện thực hiện. Ngược lại, cấp được trao quyền phải chủ động đảm đương công việc thuộc thẩm quyền, không đẩy những việc khó lên trên hoặc né tránh trách nhiệm.

Tinh thần phục vụ Nhân dân còn được thể hiện rõ trong quan điểm về tổ chức bộ máy và địa giới hành chính. Mọi phương án điều chỉnh đều phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng thuận và phục vụ mục tiêu phát triển. Đặc biệt, bài phát biểu yêu cầu kiên quyết loại bỏ tư tưởng “thuận cán bộ, khổ Nhân dân”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Đây là một cách diễn đạt ngắn gọn nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu sắc về đạo đức công vụ. Mọi cải cách, sắp xếp hay phân định thẩm quyền nếu làm tăng thêm chi phí, thời gian và khó khăn cho người dân thì cần được xem xét lại. Hiệu quả của tổ chức bộ máy không thể chỉ đánh giá từ bên trong hệ thống, mà phải được nhìn từ trải nghiệm thực tế của người dân.

Chuyển đổi số và quản trị dữ liệu cũng phải tuân theo mục tiêu ấy. Dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất”, được chia sẻ theo thẩm quyền và phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm. Người dân không phải cung cấp lại những thông tin mà Nhà nước đã có trong hệ thống. Công nghệ không được tạo thêm thủ tục, phần mềm và báo cáo hình thức, mà phải giúp giảm chi phí xã hội, nâng cao tính minh bạch và chất lượng phục vụ. Ở đây, điều quan trọng không chỉ là đầu tư bao nhiêu hệ thống công nghệ, mà là công nghệ ấy có giúp người dân thuận tiện hơn hay không.

Để bảo đảm các mục tiêu ấy, kiểm tra, giám sát phải được thực hiện ngay từ đầu và trong suốt quá trình triển khai, không chờ đến khi nhiệm vụ chậm trễ, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới xử lý. Mỗi nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Đồng thời, kiểm tra không chỉ để phát hiện sai phạm mà còn nhằm tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh cách làm, tổng kết thực tiễn và hoàn thiện thể chế.

Đặc biệt, phản hồi của Nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia và cán bộ cơ sở phải được coi là một kênh kiểm chứng chính sách. Khi một vướng mắc xuất hiện trên diện rộng, cần xem xét cả trách nhiệm tổ chức thực hiện và những bất cập của cơ chế. Không nên quy mọi hạn chế cho cơ sở, nhưng cũng không thể lấy chính sách để bao biện cho năng lực yếu kém và tinh thần né tránh trách nhiệm.

Các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh: Hồ Long

Bài phát biểu cũng đặt công tác thông tin, tuyên truyền trong mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng chính sách. Tuyên truyền phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu và thuyết phục, nhưng đồng thuận xã hội không thể chỉ được tạo nên bằng lời nói. Đồng thuận trước hết phải được xây dựng từ chính sách đúng, quá trình thực hiện công bằng, công khai và những kết quả mà người dân trực tiếp cảm nhận được.

Niềm tin của Nhân dân được bồi đắp mỗi khi một kiến nghị chính đáng được lắng nghe, một thủ tục phiền hà được cắt giảm, một cán bộ dám chịu trách nhiệm được bảo vệ, một hành vi né tránh hoặc trục lợi bị xử lý, một chính sách đúng được thực hiện công bằng và nhất quán. Ngược lại, niềm tin cũng có thể bị bào mòn bởi sự chậm trễ, hình thức, đùn đẩy và khoảng cách giữa lời nói với hành động.

Có thể nói, bài phát biểu tại Hội nghị ngày 29/7/2026 mang tinh thần của một lời hiệu triệu về thực thi. Những vấn đề Trung ương đã quyết định phải được chuyển ngay thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm và kết quả cụ thể. Mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi cán bộ, đảng viên phải bắt tay ngay vào công việc, xác định đúng trọng tâm, rõ đầu mối, rõ tiến độ và rõ trách nhiệm.

Nghị quyết chỉ thực sự sống trong lòng xã hội khi người dân nhận thấy bộ máy hoạt động tốt hơn, nguồn lực được khơi thông, những điểm nghẽn được tháo gỡ, quyền lợi chính đáng được bảo đảm và cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đó không chỉ là yêu cầu đối với một hội nghị hay một nhiệm kỳ, mà còn là nền tảng để xây dựng một nền quản trị hiện đại, trách nhiệm, nhân văn và vì Nhân dân.

Từ tinh thần của bài phát biểu, có thể cô đọng thành một thông điệp: mỗi chủ trương phải trở thành một công việc rõ ràng; mỗi công việc phải tạo ra một sản phẩm cụ thể; và mỗi sản phẩm cuối cùng phải được đo bằng những đổi thay tích cực mà Nhân dân có thể nhìn thấy, cảm nhận và tin tưởng.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn