Chính trị

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV:Chính sách đúng phải đi cùng điều kiện thực hiện

Quỳnh Chi thực hiện 27/07/2026 06:18

Tại Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh “Năng lực thực thi phải được thiết kế ngay trong mỗi quyết sách”. Bày tỏ đặc biệt tâm đắc với yêu cầu này, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị đưa vào quy trình thẩm tra các dự án luật một yêu cầu bắt buộc: mọi dự án luật làm phát sinh nghĩa vụ mới với người dân, doanh nghiệp đều phải có báo cáo về điều kiện thực thi, trả lời rõ hạ tầng nào phải có sẵn, chi phí tuân thủ rơi vào nhóm nào, nhóm yếu thế được hỗ trợ ra sao, và thời điểm có hiệu lực gắn với mức độ sẵn sàng của điều kiện đó.

Bốn câu hỏi bắt buộc khi xem xét một quy định: Ai thực hiện? Bằng nguồn lực nào? Đo bằng gì? Và ai chịu trách nhiệm nếu không làm được?

- Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV vừa bế mạc đã thông qua nhiều quyết sách lớn. Từ góc nhìn của một đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, thông điệp nào của Hội nghị để lại ấn tượng sâu sắc nhất với ông?

Hội nghị Trung ương 3 đã thành công rất tốt đẹp với rất nhiều quyết sách đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong thời gian tới. Một trong các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị mà tôi hết sức tâm đắc và cho rằng có sức nặng đặc biệt đối với công tác lập pháp, đó là: “Năng lực thực thi phải được thiết kế ngay trong mỗi quyết sách”. Đi cùng với đó là ba điều “không được phép”: không giao nhiệm vụ mà không xác định rõ điều kiện thực hiện; không phân cấp mà thiếu kiểm soát; không để trách nhiệm hòa tan trong phối hợp.

20260724-bemactw3-9.jpg
Các đại biểu dự Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV. Ảnh: Phạm Thắng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là khâu thực thi, mà nguyên nhân sâu xa là thẩm quyền có nơi chưa đi liền trách nhiệm, phân cấp chưa gắn đủ với nguồn lực, dữ liệu, công cụ và năng lực cán bộ.

Với trách nhiệm là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở Trung ương, trực tiếp thẩm tra nhiều dự án luật, tôi nhận thức sâu sắc rằng nhận định này đã đặt ra một tiêu chí mới cho từng dự án luật: khi xem xét một điều khoản, câu hỏi bắt buộc không chỉ là quy định này có đúng hay không, mà là ai thực hiện, bằng nguồn lực nào, đo bằng gì và ai chịu trách nhiệm nếu không làm được?

- Theo ông, ba điều “không được phép” ở trên có cần được áp dụng cả khi Nhà nước đặt ra nghĩa vụ cho người dân và doanh nghiệp hay không?

- Tôi cho là rất cần thiết, bởi hệ quả rất khác nhau. Khi Nhà nước giao nhiệm vụ cho một bộ mà thiếu điều kiện, hậu quả là chậm tiến độ và còn có thể khắc phục. Nhưng khi Nhà nước đặt nghĩa vụ lên vai người dân, doanh nghiệp mà chưa tạo được điều kiện để họ thực hiện, thì người dân có thể bị xử phạt vì một việc mà họ không có cách nào làm đúng, doanh nghiệp có thể mất thị trường, và cái mất lớn nhất là niềm tin vào chính sách.

Tôi xin lấy một ví dụ rất cụ thể. Luật Bảo vệ môi trường quy định hộ gia đình bắt buộc phân loại rác tại nguồn từ đầu năm 2025. Người dân ở nhiều nơi đã chấp hành, phân loại cẩn thận, nhưng nếu rác phân loại xong vẫn được thu gom chung một xe và chôn lấp chung một chỗ, thì nghĩa vụ pháp lý vẫn còn, chế tài vẫn còn, chỉ có kết quả môi trường là không có, và người dân làm đúng lại thấy việc mình làm trở nên vô nghĩa.

Phải đưa chỉ tiêu đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp theo ngành và theo địa phương vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để báo cáo Quốc hội hằng năm

- Trung ương xác định chuyển sang mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Theo ông, cần thể chế hóa như thế nào?

- Có thể khẳng định cho đến thời điểm này, khung pháp lý để chuyển đổi mô hình đã được hình thành và từng bước hoàn thiện. Chỉ trong khoảng 18 tháng qua, Quốc hội đã thông qua hàng loạt đạo luật có liên quan, trong đó phải kể đến Luật Trí tuệ nhân tạo (đã đưa Việt Nam vào nhóm ít quốc gia có khung pháp lý tương đối toàn diện về trí tuệ nhân tạo), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Dữ liệu. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả thì bên cạnh việc tiếp tục thể chế hóa, vấn đề cốt lõi hiện nay là giải quyết bài toán ở khâu tổ chức thực hiện.

Tôi lấy một ví dụ cụ thể: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã giao nhiệm vụ xây dựng bộ tiêu chí thống kê, đo lường, đánh giá mức độ đóng góp của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho phát triển kinh tế - xã hội và năng suất lao động, nhưng chừng nào bộ tiêu chí đó chưa được ban hành và vận hành thì chúng ta vẫn chỉ kiểm đếm được số đề tài và số tiền giải ngân, chứ chưa kiểm đếm được năng suất tạo ra và mức độ đóng góp vào tăng trưởng.

20260724-bemactw3-1-0cdab59f73a844808a65fd70d6f269b5.jpg
Toàn cảnh phiên họp Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV. Ảnh: Phạm Thắng

Trong phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã yêu cầu rất rõ: đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm và kết quả thực tế; phải kiểm đếm điểm nghẽn đã được tháo gỡ, nguồn lực đã được khơi thông. Muốn kiểm đếm thì phải đo được; không đo được thì không giám sát được, và không giám sát được thì không có trách nhiệm giải trình. Vì vậy, tôi kiến nghị đưa chỉ tiêu về đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp theo ngành và theo địa phương vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, công bố hằng năm và đưa vào báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội.

- Tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh việc bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Liên hệ với lĩnh vực phụ trách của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, theo ông, yêu cầu này có ý nghĩa như thế nào?

- Hội nghị Trung ương 3 vừa thông qua Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, với yêu cầu rất rõ là kỷ luật nghiêm minh nhưng không làm triệt tiêu tinh thần đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tôi đề nghị thể chế hóa ngay tinh thần đó vào các quy định pháp luật, nhất là các văn bản dưới luật, phân định rành mạch giữa rủi ro nghiệp vụ được chấp nhận trong thử nghiệm và hành vi vi phạm phải xử lý. Có ranh giới rõ thì cán bộ mới dám làm.

Hiện nay, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Luật Trí tuệ nhân tạo đều có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Đây là công cụ then chốt cho công nghệ mới. Nhưng nếu chưa quy định rõ ràng, cán bộ phê duyệt một thử nghiệm mà thử nghiệm thất bại thì việc xử lý dựa vào đâu, hệ quả pháp lý thế nào, sẽ dẫn đến rất ít người dám ký. Đây là minh chứng cho việc quy định đã được thể chế hóa trong luật nhưng chưa có tính khả thi, chưa đi được vào cuộc sống.

Mọi dự án luật làm phát sinh nghĩa vụ mới với người dân, doanh nghiệp phải có báo cáo về điều kiện thực thi

- Về môi trường, Trung ương yêu cầu chuyển từ quản lý theo địa giới sang quản trị theo hệ sinh thái, lưu vực sông và vùng biển. Theo ông, cần thể chế hóa yêu cầu này như thế nào?

- Trung ương vừa ban hành Kết luận về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới và Nghị quyết về xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây là cơ sở quan trọng để thể chế hóa ngay trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang dự kiến trình Quốc hội vào Kỳ họp thứ hai (tháng Mười) tới. Tức là chúng ta chỉ có khoảng ba tháng để nghiên cứu, thể chế hóa đầy đủ ý kiến chỉ đạo này. Theo tôi, có ba nội dung cốt lõi nhằm thực thi yêu cầu chuyển từ quản lý theo địa giới sang quản trị theo hệ sinh thái, lưu vực sông và vùng biển.

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Thứ nhất, phải có thiết chế quản trị lưu vực sông với thẩm quyền thực chất: phân bổ hạn ngạch xả thải theo sức chịu tải của lưu vực, quyết định có hiệu lực ràng buộc các địa phương, có bộ máy thường trực và nguồn ngân sách bảo đảm. Bởi hiện nay ô nhiễm không dừng lại ở ranh giới một tỉnh. Khi tổng tải lượng toàn lưu vực đã vượt sức chịu tải mà mỗi địa phương vẫn cấp phép trong ngưỡng của mình thì ai sẽ chịu trách nhiệm khi hậu quả xảy ra, ai sẽ đủ thẩm quyền quyết định “dừng”? Đó chính là trách nhiệm bị hòa tan trong phối hợp.

Thứ hai là năng lực thực thi ở cấp cơ sở. Chúng ta đang cắt giảm mạnh thủ tục tiền kiểm, đồng thời chuyển phần lớn nhiệm vụ bảo vệ môi trường về cấp xã. Hai việc đó chỉ đúng nếu năng lực hậu kiểm ở cơ sở được xây dựng song song; thực trạng hiện nay, nhiều cấp xã chỉ có cán bộ kiêm nhiệm làm công tác môi trường. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói rất rõ: khi cấp xã chưa bảo đảm thẩm quyền, nhân lực, tài chính, dữ liệu, công cụ và hướng dẫn thì cấp tỉnh có trách nhiệm tháo gỡ, không để tồn đọng. Theo đó, tôi đề nghị cần sớm thể chế hóa yêu cầu này thành quy phạm, kèm định mức tối thiểu về nhân lực, thiết bị quan trắc và kinh phí.

Thứ ba là biển. Cùng một vùng biển hiện có thể phát sinh nhu cầu của điện gió ngoài khơi, hàng hải, nuôi biển, du lịch và bảo tồn. Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang hướng tới hình thành một cơ quan quản lý chung về biển và đưa ra khái niệm kinh tế biển xanh. Câu hỏi cần được trả lời rõ ngay trong luật là cơ quan đó có thẩm quyền phân xử có ràng buộc hay chỉ có chức năng điều phối? Nếu chỉ điều phối, xung đột vẫn sẽ được giải quyết bằng tương quan giữa các ngành chứ không phải bằng quy định của pháp luật.

- Từ những vấn đề trao đổi ở trên, ông có đề xuất gì để nhanh chóng triển khai thực hiện các yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV?

- Tôi xin đề xuất ba vấn đề:

Thứ nhất, đưa vào quy trình thẩm tra các dự án luật một yêu cầu bắt buộc: mọi dự án luật làm phát sinh nghĩa vụ mới đối với người dân, doanh nghiệp phải kèm theo báo cáo về điều kiện thực thi, trả lời rõ hạ tầng nào phải có sẵn, chi phí tuân thủ rơi vào nhóm nào, nhóm yếu thế được hỗ trợ ra sao, và thời điểm có hiệu lực gắn với mức độ sẵn sàng của điều kiện đó. Riêng đối với hai dự án luật về môi trường và về biển trình Quốc hội tại Kỳ họp tháng Mười tới, tôi đề nghị hồ sơ các dự án luật phải có đề án bảo đảm năng lực thực thi cho cấp tỉnh và cấp xã.

Thứ hai là giám sát chuyên đề. Các đạo luật lớn về khoa học, công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo mới có hiệu lực trong khoảng một năm trở lại đây. Tôi cho rằng nên giám sát sớm, ngay trong năm 2027, để biết vướng ở đâu, thay vì đợi nhiều năm rồi mới sửa luật.

Thứ ba là công khai dữ liệu. Đề nghị công bố định kỳ chất lượng không khí và nước theo thời gian thực; thu, chi và kết quả của kinh phí tái chế theo cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất; tiến độ đàm phán công nhận cơ chế định giá các-bon. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu công khai, minh bạch để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân theo dõi, giám sát. Công khai cũng chính là cách bảo vệ những nơi làm tốt.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Những chính sách về môi trường, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số mà chúng ta đang triển khai đều là việc phải làm, không thể trì hoãn. Nhưng cách làm phải để người dân và doanh nghiệp thấy mình được đồng hành.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói: thước đo cuối cùng là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân; kết quả thực tế và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp là căn cứ chủ yếu để đánh giá tổ chức, cán bộ.
Cá nhân tôi nhận thức rất sâu sắc về yêu cầu này, rất thực tiễn nhưng đòi hỏi nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cấp, các ngành. Luật quy định người dân phân loại rác thì phải có hệ thống thu gom phân loại. Hạn chế xe xăng thì phải có trạm sạc và phương tiện thay thế. Yêu cầu doanh nghiệp kiểm kê phát thải thì phải có hệ số quốc gia và tổ chức thẩm định được quốc tế công nhận.
Chính sách đúng mà thiếu điều kiện thực hiện thì người dân và doanh nghiệp là bên trả giá. Và cái mất lớn nhất không phải là tiền, mà là niềm tin. Trách nhiệm của những người làm công tác lập pháp và giám sát là phải không để điều đó xảy ra.

Quỳnh Chi thực hiện