Kinh tế

Phát triển thị trường vốn để giảm gánh nặng cho tín dụng ngân hàng

Vũ Quang 24/07/2026 07:07

Nhu cầu vốn để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 lên tới hàng chục triệu tỷ đồng, nhưng nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là giải pháp then chốt để bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Phần lớn nhu cầu vốn vẫn "trông cậy" vào ngân hàng

Thị trường vốn được xác định là một trong những trụ cột để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2030.

Tại hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026, đồng thời kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Để đạt mục tiêu này, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 ước khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Giai đoạn 2026 - 2030, con số này lên tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng.

Tính đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Chỉ hơn 6 tháng đầu năm, các tổ chức tín dụng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cấp vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

1784770538646_1767815074816275903_g8331041538519616426_a79de31e98894491432bbded7ccbaf91(1).jpg
Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Vũ Quang

Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Hà Duy Tùng cho biết, thị trường chứng khoán tiếp tục mở rộng cả về quy mô và khả năng huy động vốn. Tính đến ngày 30/6/2026, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2025, tương đương 82,6% GDP năm 2025. Thị trường hiện có 54 doanh nghiệp có vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt 10 tỷ USD. Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP.

Trong 6 tháng đầu năm, tổng giá trị huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp đạt 325.300 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm trước. Theo ông Tùng, những kết quả này cho thấy thị trường chứng khoán tiếp tục khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, góp phần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, phần lớn nhu cầu vốn hiện vẫn do hệ thống ngân hàng đáp ứng; bà Hà Thu Giang, cho biết, cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức khoảng 145%. Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, công trình trọng điểm và các lĩnh vực ưu tiên ngày càng lớn, nhưng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này dẫn tới áp lực cung ứng vốn cũng như rủi ro chênh lệch kỳ hạn và rủi ro thanh khoản.

Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, cần phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để hình thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng.

Cơ cấu ngành nghề trên thị trường chứng khoán cần đa dạng hơn

Theo ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty CP Chứng khoán SHS, để thị trường vốn phát triển đồng bộ, lành mạnh, minh bạch và hiện đại, cần tập trung vào ba vấn đề.

Thứ nhất, cần tạo điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam một cách thực chất. Đồng thời, thị trường cần thêm doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), niêm yết.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề trên thị trường chứng khoán cần phản ánh đầy đủ hơn cơ cấu của nền kinh tế. Hiện nhóm ngân hàng, tài chính và bất động sản chiếm khoảng 50 - 60% tổng vốn hóa. Sự tập trung này đã được nhắc đến trong nhiều năm nhưng chưa có lộ trình cụ thể để cải thiện. Thời gian tới, thị trường phải bổ sung doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, tiêu dùng, hạ tầng, năng lượng, logistics và những ngành kinh tế mới.

Thứ ba, Việt Nam cần nhanh chóng phát triển lực lượng nhà đầu tư tổ chức. Nhà đầu tư cá nhân hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch, trong khi các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và tổ chức quản lý tài sản dài hạn còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân khiến thị trường dễ biến động mạnh và chịu ảnh hưởng lớn bởi tâm lý ngắn hạn.

Ở góc độ khác, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Trung tâm Tài chính quốc tế có thể bổ sung một kênh huy động vốn trung và dài hạn bên cạnh thị trường chứng khoán, trái phiếu và các định chế đầu tư trong nước.

Ông cho biết, Trung tâm hiện đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư tại nhiều quốc gia, gồm cả các nền kinh tế phát triển và các nước trong khu vực. Đến nay, hơn 100 định chế tài chính quốc tế đã bày tỏ mong muốn trở thành thành viên của Trung tâm, chưa kể các tổ chức tài chính trong nước.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Vì vậy, thời gian tới cần xây dựng một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất chiến lược phát triển đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính xanh và tài chính số. Đồng thời, cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; từng bước phát triển thị trường phái sinh, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp.

Vũ Quang