Quốc tế hóa phải trở thành năng lực cốt lõi của cơ sở giáo dục đại học
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh trong bối cảnh mới, quốc tế hóa không còn là một mảng hoạt động bổ trợ, càng không thể chỉ được đo bằng số lượng biên bản ghi nhớ, đoàn ra, đoàn vào hay chương trình liên kết. Quốc tế hóa phải trở thành một năng lực cốt lõi của cơ sở giáo dục đại học.
Từ ngày 16-17/7, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ GD-ĐT phối hợp với Hội đồng Anh và Hiệp hội Giáo dục quốc tế châu Á - Thái Bình Dương (APAIE) tổ chức Chương trình tập huấn về hợp tác đầu tư và quốc tế hóa giáo dục đại học, với Chủ đề: “Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa địa phương và kỷ nguyên vươn mình: Bản sắc địa phương - Tư duy toàn cầu”.

Mỗi thỏa thuận hợp tác cần hướng tới một kết quả có thể nhận diện và đo lường
Phát biểu tại sự kiện, PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh, chương trình được tổ chức vào một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt, khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân tài ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu tạo đột phá trong phát triển giáo dục và đào tạo; Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Đề án hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo đến năm 2030 tiếp tục xác định hội nhập quốc tế là một động lực quan trọng để nâng cao chất lượng và vị thế của giáo dục Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, quốc tế hóa không còn là một mảng hoạt động bổ trợ, càng không thể chỉ được đo bằng số lượng biên bản ghi nhớ, đoàn ra, đoàn vào hay chương trình liên kết. Quốc tế hóa phải trở thành một năng lực cốt lõi của cơ sở giáo dục đại học: năng lực lựa chọn đối tác, tiếp nhận và đồng kiến tạo tri thức, thu hút và phát triển nhân tài, tổ chức nghiên cứu chung, bảo đảm chất lượng xuyên biên giới và chuyển các mối quan hệ quốc tế thành giá trị cụ thể cho người học, nhà trường và xã hội.
"Vì vậy, câu hỏi quan trọng không còn là một trường đại học “có hợp tác quốc tế hay không”, mà là hợp tác quốc tế đóng góp như thế nào vào chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, đổi mới quản trị và tác động phát triển của nhà trường.
Mỗi thỏa thuận hợp tác cần hướng tới một kết quả có thể nhận diện và đo lường: một chương trình đào tạo tốt hơn, một nhóm nghiên cứu mạnh hơn, một công nghệ được chuyển giao, một đội ngũ được nâng cao năng lực, hay thêm những cơ hội học tập và phát triển thực chất cho sinh viên", PGS.TS Nguyễn Thu Thủy cho hay.
Theo Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, chủ đề “Bản sắc địa phương - Tư duy toàn cầu” gợi mở một cách tiếp cận rất đúng đối với giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay. Hội nhập không có nghĩa là sao chép mô hình bên ngoài hoặc làm mờ bản sắc của mỗi cơ sở. Ngược lại, một trường đại học chỉ có thể tham gia bình đẳng và tạo ra giá trị trong mạng lưới toàn cầu khi hiểu rõ sứ mạng, thế mạnh và trách nhiệm của mình đối với địa phương và đất nước.
Bản sắc địa phương không phải là giới hạn của tư duy toàn cầu. Đó chính là điểm tựa để mỗi trường xác định mình có thể đóng góp điều gì khác biệt cho cộng đồng học thuật quốc tế. Một vấn đề của địa phương, nếu được tiếp cận bằng tri thức và chuẩn mực quốc tế, có thể trở thành một đề tài nghiên cứu có giá trị toàn cầu. Ngược lại, tri thức và mô hình quốc tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa phù hợp với điều kiện, văn hóa và nhu cầu phát triển của Việt Nam.

"Từ góc độ quản lý nhà nước, chúng tôi kỳ vọng quốc tế hóa giáo dục đại học trong thời gian tới sẽ chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu; từ ký kết sang triển khai; từ hoạt động riêng lẻ sang chiến lược tổng thể; và từ tiếp nhận thụ động sang hợp tác bình đẳng, cùng kiến tạo và cùng chịu trách nhiệm về kết quả", PGS.TS Nguyễn Thu Thủy bày tỏ kỳ vọng.
Theo bà, để thực hiện được sự chuyển dịch đó, lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học cần đặt hợp tác quốc tế trong chiến lược phát triển chung của nhà trường, gắn với quy hoạch ngành đào tạo, chiến lược khoa học - công nghệ, phát triển đội ngũ, chuyển đổi số và nhu cầu nhân lực của địa phương, vùng và quốc gia.
Đồng thời, mỗi cơ sở cần hình thành đội ngũ làm công tác quốc tế có năng lực chuyên nghiệp; xây dựng cơ chế phối hợp nội bộ rõ ràng; nâng cao năng lực thẩm định đối tác, quản trị rủi ro và bảo đảm chất lượng; đặc biệt là tạo điều kiện để giảng viên, nhà khoa học và người học thực sự trở thành chủ thể của quá trình quốc tế hóa.
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy khẳng định, chương trình tập huấn không chỉ nhằm cung cấp thêm thông tin hay kỹ năng nghiệp vụ. Điều quan trọng hơn là cùng nhau nhìn lại cách chúng ta đang tư duy và tổ chức hoạt động quốc tế hóa; nhận diện những điểm nghẽn về thể chế, năng lực và phương thức triển khai. Từ đó, chuyển những kiến thức, kinh nghiệm được chia sẻ thành thay đổi cụ thể tại từng cơ sở giáo dục đại học.
Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi hơn cho hợp tác, đầu tư và quốc tế hóa giáo dục đại học; đồng thời tăng cường yêu cầu về chất lượng, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực chất. Nhà nước kiến tạo hành lang và định hướng; nhưng chất lượng hội nhập cuối cùng phụ thuộc vào tầm nhìn, năng lực tổ chức và quyết tâm hành động của từng cơ sở giáo dục đại học.
"Tôi tin rằng, khi giữ vững bản sắc, lựa chọn đúng đối tác và chuyển tư duy toàn cầu thành năng lực hành động tại địa phương, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam không chỉ hội nhập tốt hơn, mà còn có thể đóng góp chủ động, có trách nhiệm và có bản sắc vào sự phát triển của giáo dục đại học khu vực và thế giới", PGS.TS Nguyễn Thu Thủy cho hay.

Cần nhìn nhận quốc tế hóa như một công cụ phát triển thay vì đích đến
Để các trường đại học Việt Nam mở rộng hợp tác quốc tế mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa, giá trị học thuật và định hướng phát triển riêng của Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Thu Thủy cho rằng điều quan trọng nhất là phải nhìn nhận quốc tế hóa như một công cụ phát triển chứ không phải là đích đến.
Theo PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, trong nhiều năm, quốc tế hóa thường được hiểu là đưa sinh viên ra nước ngoài học tập hoặc ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, cách tiếp cận đó đã thay đổi. Mục tiêu của chúng ta không phải là sao chép các mô hình từ bên ngoài, mà là chủ động tiếp thu những tri thức tiên tiến, công nghệ mới và kinh nghiệm quản trị hiện đại của thế giới để giải quyết các nhu cầu phát triển của Việt Nam.
Vì vậy, bản sắc địa phương và tư duy toàn cầu không phải là hai yếu tố đối lập. Ngược lại, chúng bổ trợ cho nhau. Một trường đại học càng hiểu rõ sứ mạng, giá trị cốt lõi, thế mạnh học thuật và trách nhiệm xã hội của mình thì càng có khả năng tham gia hiệu quả vào các mạng lưới học thuật quốc tế.
"Hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Hội nhập thành công là khi các trường giữ được bản sắc, đồng thời nâng cao năng lực nội sinh để tạo ra giá trị mới cho người học, cho địa phương và cho đất nước.
Từ góc độ quản lý nhà nước, chúng tôi khuyến khích các trường chuyển từ tư duy "hợp tác để có hoạt động" sang "hợp tác để tạo tác động" hay “đồng kiến tạo”. Câu hỏi quan trọng không phải là trường có bao nhiêu đối tác quốc tế hay bao nhiêu chương trình liên kết đào tạo, mà là những hoạt động đó đã giúp nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khả năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội như thế nào", PGS.TS Nguyễn Thu Thủy nhấn mạnh.

Bà cho rằng trong giai đoạn tới, những trường đại học thành công sẽ không phải là những trường quốc tế hóa nhiều nhất, mà là những trường biết lựa chọn đúng đối tác, đúng lĩnh vực ưu tiên và biết kết nối các nguồn lực toàn cầu với các nhu cầu phát triển của Việt Nam. Đó chính là tinh thần của "glocalisation" - tư duy toàn cầu nhưng hành động trên nền tảng giá trị và thực tiễn địa phương.
Cũng theo PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Bộ GD-ĐT kỳ vọng các trường đại học Việt Nam không chỉ là nơi tiếp nhận tri thức quốc tế mà còn trở thành những chủ thể tích cực đóng góp tri thức cho khu vực và thế giới. Đây là một sự chuyển dịch rất quan trọng: từ tư duy "tham gia toàn cầu" sang tư duy "đóng góp vào toàn cầu".
Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng năng lực sản xuất hay quy mô thị trường, mà còn bằng khả năng tạo ra tri thức mới, thu hút nhân tài và lan tỏa các giá trị văn hóa, học thuật. Các trường đại học chính là lực lượng nòng cốt thực hiện sứ mệnh đó.
Thông qua các mạng lưới hợp tác quốc tế, các chương trình giáo dục xuyên quốc gia, các dự án nghiên cứu chung và các hoạt động trao đổi học giả, sinh viên, hình ảnh về một Việt Nam năng động, đổi mới, cởi mở và giàu bản sắc sẽ được lan tỏa một cách tự nhiên và bền vững.
"Chúng tôi mong muốn mỗi trường đại học trở thành một "đại sứ tri thức" của đất nước. Điều đó không chỉ thể hiện ở việc giới thiệu văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế mà còn ở khả năng đưa các kết quả nghiên cứu, các sáng kiến đổi mới sáng tạo và các giải pháp phát triển của Việt Nam tham gia vào việc giải quyết những thách thức chung của khu vực và toàn cầu", Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế bày tỏ kỳ vọng.
Về dài hạn, Bộ GD-ĐT kỳ vọng các trường đại học sẽ trở thành những hạt nhân quan trọng của ngoại giao giáo dục, góp phần nâng cao vị thế quốc gia, mở rộng ảnh hưởng học thuật và thu hút nguồn lực quốc tế chất lượng cao.
Tầm nhìn của Bộ GD-ĐT là Việt Nam không chỉ được biết đến là quốc gia có nhiều người đi du học, mà còn là điểm đến học tập, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có uy tín của khu vực ASEAN. Khi đó, hợp tác quốc tế sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho từng cơ sở giáo dục mà còn đóng góp trực tiếp vào năng lực cạnh tranh quốc gia và sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.