Kinh tế

GDP tăng cao nhất 15 năm, tạo đà cho tăng trưởng 2 con số

Đan Thanh 15/07/2026 06:32

Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, GDP 6 tháng đầu năm 2026 của Việt Nam tăng 8,18% - cao nhất kể từ năm 2011. Kết quả này minh chứng cho khả năng chống chịu và sức bật của nền kinh tế; đồng thời phản ánh hiệu quả điều hành, tạo đà hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Kết quả của sự điều hành quyết liệt

Điều đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm không chỉ là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 15 năm qua, mà còn là sự cải thiện đồng thời của hầu hết động lực tăng trưởng. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò đầu tàu; xuất khẩu duy trì đà tăng mạnh; đầu tư xã hội khởi sắc; tiêu dùng trong nước phục hồi tích cực; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng; lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được giữ vững.

sản xuất
Dây chuyền sản xuất của Công ty Honda Việt Nam, Khu công nghiệp Đồng Văn II. Ảnh: Nguyễn Chinh

Theo Bộ Tài chính, kết quả tăng trưởng ấn tượng trong nửa đầu năm minh chứng rõ nét cho hiệu quả của công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành kinh tế - xã hội trong bối cảnh đầy thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự đồng hành, giám sát của Quốc hội và sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, nhiều giải pháp đã được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó có việc thường xuyên cập nhật kịch bản tăng trưởng, ứng phó kịp thời với biến động bên ngoài, bảo đảm nguồn cung xăng dầu, điều hành hài hòa chính sách tài khóa và tiền tệ, qua đó giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy các động lực tăng trưởng.

Đánh giá mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy bức tranh tương đồng. Trong Báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 7/2026, WB nhận định tăng trưởng của Việt Nam vẫn duy trì mạnh trong nửa đầu năm với GDP thực tế tăng 8,2% nhờ sản xuất chế biến, chế tạo, xuất khẩu và đầu tư tăng mạnh. Xuất khẩu hàng hóa tăng 21% trong nửa đầu năm, chủ yếu bởi các sản phẩm công nghệ cao và các mặt hàng chế biến chế tạo khác. Tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo tiếp tục được cải thiện khi chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) quay trở lại vùng mở rộng, và các chỉ báo triển vọng như đơn hàng xuất khẩu mới và lượng mua nguyên vật liệu đều tăng lên.

Đầu tư cũng ghi nhận sự khởi sắc trong nửa đầu năm, với khu vực tư nhân đóng vai trò dẫn dắt, tiếp đến là khu vực FDI, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng được cải thiện. Theo WB, các cam kết FDI tiếp tục duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm 2026 phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế đối với vai trò của Việt Nam như một trung tâm sản xuất và xuất khẩu có sức cạnh tranh.

Đáng chú ý, thành quả tăng trưởng đạt được trong điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. WB ghi nhận lạm phát đã giảm trong tháng 6, trong đó việc triển khai sử dụng xăng sinh học E10 và E5 góp phần giảm chi phí nhiên liệu và chi phí vận tải. Điều này cho thấy các giải pháp điều hành không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng mà còn tạo dư địa để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô - yếu tố nền tảng của tăng trưởng bền vững.

Đặc biệt, triển vọng dài hạn của nền kinh tế cũng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việc Việt Nam vừa được WB nâng lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao càng củng cố thêm niềm tin vào triển vọng phát triển của nền kinh tế. Theo bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB tại Việt Nam, Campuchia và Lào, thành quả này phản ánh nhiều thập kỷ cải cách bền bỉ, tăng trưởng kinh tế vững chắc và mức sống ngày càng được nâng cao. Đồng thời, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực, được thúc đẩy bởi dòng vốn FDI ổn định, xuất khẩu tăng mạnh và khu vực dịch vụ ngày càng phát triển.

Tăng trưởng cao phải đi cùng chất lượng

Bên cạnh những kết quả tích cực, cả WB và giới chuyên gia đều cho rằng chặng đường phía trước đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chất lượng tăng trưởng.

Bà Mariam J. Sherman nhấn mạnh, những động lực đã đưa Việt Nam đến ngưỡng thu nhập trung bình cao vẫn còn nguyên giá trị. Song, để duy trì tăng trưởng trong tương lai, nền kinh tế sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng suất, đổi mới sáng tạo, sự lớn mạnh của doanh nghiệp nội địa và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Theo bà, chặng đường phát triển tiếp theo sẽ không chỉ được định hình bởi tốc độ tăng trưởng mà còn bởi chất lượng của sự tăng trưởng. Đây là yếu tố then chốt trên con đường Việt Nam tiến tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045.

Trong Báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô tháng 7/2026, WB lưu ý, tăng trưởng của Việt Nam đang “phụ thuộc cao” vào nhập khẩu trong chuỗi giá trị sản xuất. Điều này phản ánh mức độ hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng cũng gia tăng áp lực lên cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối trong ngắn hạn. Báo cáo khuyến nghị Việt Nam cần theo dõi sát những rủi ro từ môi trường kinh tế quốc tế, đặc biệt là những biến động về thương mại toàn cầu có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu. Đồng thời, cần giám sát chặt chẽ các rủi ro về chất lượng tín dụng, chênh lệch kỳ hạn và mức độ tập trung tín dụng trong hệ thống ngân hàng.

Tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”, do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới phối hợp tổ chức sáng 14/7, GS. TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc mô hình tăng trưởng, trong đó trọng tâm không chỉ là nâng cao tốc độ tăng trưởng mà còn phải cải thiện chất lượng phát triển.

Theo ông Lợi, ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng quan trọng nhưng chưa đủ. Năng lực tăng trưởng thực chất phải được hình thành từ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từng ngành, từng địa phương và từng dự án đầu tư. Vì vậy, cùng với việc giữ vững ổn định vĩ mô, cần đẩy mạnh các cải cách vi mô nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển và nâng cao năng suất của doanh nghiệp.

Để các chính sách vi mô thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng hai con số, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực và doanh nghiệp có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Đồng thời, nâng cao chất lượng tổ chức thực thi, bởi mọi sự chậm trễ trong triển khai chính sách đều làm gia tăng chi phí của nền kinh tế.

Có thể thấy, kết quả tăng trưởng 8,18% trong nửa đầu năm không chỉ tạo dư địa để hoàn thành mục tiêu phát triển năm 2026 mà còn củng cố niềm tin vào triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và tiến tới trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần tiếp tục kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao năng suất, phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước và chuyển hóa hiệu quả các nguồn lực thành động lực tăng trưởng mới.

Mariam J Sherman
Ảnh: WB

Bà MARIAM J. SHERMAN, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào
Việt Nam sở hữu những lợi thế nền tảng không phải quốc gia nào cũng có

Điều đáng khích lệ là Việt Nam đã hội tụ nhiều yếu tố nền tảng quan trọng. Đất nước có lực lượng lao động trẻ và năng động, nền kinh tế vĩ mô ổn định, vị trí địa chiến lược ở trung tâm khu vực tăng trưởng năng động nhất châu Á và quan trọng hơn hết là ý chí mạnh mẽ cùng năng lực cải cách, thích ứng đã được chứng minh qua thực tiễn. Đây là những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.

Để hiện thực hóa khát vọng năm 2045, Việt Nam cần giải quyết một số thách thức trọng yếu. Một trong số đó là khoảng cách ngày càng lớn giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa. Trong khi đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng thúc đẩy thành công của Việt Nam, giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp trong nước - đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để các doanh nghiệp này có thể đổi mới, phát triển, tạo ra nhiều việc làm chất lượng hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời đa dạng hóa động lực tăng trưởng trong bối cảnh môi trường quốc tế ngày càng nhiều biến động.

Đầu tư công đang trở thành một trong những đòn bẩy tăng trưởng then chốt, với kế hoạch vốn đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030 tăng gần gấp ba lần so với giai đoạn 5 năm trước. Song đầu tư công cần chuyển từ mục tiêu giải ngân nhanh sang mục tiêu tạo ra tác động thực sự. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao chất lượng lựa chọn dự án, tăng cường năng lực chuẩn bị đầu tư, cải thiện hiệu quả đấu thầu và xây dựng cơ chế giảm thiểu rủi ro để thu hút vốn tư nhân.

Hạ tầng sẽ đóng vai trò trung tâm trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Chương trình đầu tư công đầy tham vọng của Chính phủ có thể giúp giải quyết những điểm nghẽn hạ tầng trọng yếu, nhưng nguồn lực công đơn thuần sẽ không đủ đáp ứng các mục tiêu hạ tầng dài hạn của đất nước. Đây là lĩnh vực WB đang phối hợp chặt chẽ với Chính phủ để đổi mới cách tiếp cận tài chính hạ tầng, tạo điều kiện thu hút vốn tư nhân thông qua các dự án được chuẩn bị tốt, có tính khả thi về mặt tài chính. Sự kết hợp giữa đầu tư công và tư nhân có thể giúp xây dựng hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số cần thiết để nền kinh tế tiếp tục phát triển bền vững.

Tăng trưởng dài hạn cũng đòi hỏi phải đa dạng hóa và phát triển chiều sâu các nguồn tài chính, không chỉ dựa vào hệ thống ngân hàng. Tiếp tục cải cách thị trường vốn sẽ giúp bảo đảm nguồn vốn và tín dụng ngân hàng được phân bổ hiệu quả đến các doanh nghiệp năng động và có tiềm năng tăng trưởng cao, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kế thừa kết quả từ việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, việc tiếp tục cải cách sẽ giúp củng cố thị trường vốn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế.

Song song đó, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cần được hậu thuẫn bởi nguồn nhân lực chất lượng cao. Khi Việt Nam tiến gần hơn đến mức thu nhập cao, việc đầu tư liên tục vào đổi mới sáng tạo, phát triển kỹ năng và ứng dụng công nghệ là điều kiện thiết yếu giúp doanh nghiệp leo lên nấc cao hơn trong chuỗi giá trị, cạnh tranh trong các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn và tạo ra nhiều việc làm tốt hơn.

Quan trọng hơn, cải thiện môi trường pháp lý là cần thiết nhưng chưa đủ. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong cải cách thể chế, nhưng tăng trưởng bền vững xét đến cùng đòi hỏi sự cam kết có hệ thống: từng cấp chính quyền, từng cơ quan, từng chủ thể đều hướng về cùng một mục tiêu phát triển chung.

Minh Châu

Đưa trí tuệ nhân tạo thành động lực tăng trưởng

Trong tham luận tại Diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu tăng trưởng hai con số", TS. Hồ Đức Thắng, Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia, cho rằng, tăng trưởng hai con số không chỉ đến từ huy động thêm vốn và lao động. Tăng trưởng còn đến từ việc mỗi giờ làm việc tạo ra nhiều giá trị hơn, mỗi quy trình giảm bớt lãng phí, mỗi quyết định chính xác hơn và mỗi khách hàng được phục vụ tốt hơn. Trong tiến trình đó, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể trở thành một động lực tăng trưởng của giai đoạn mới.

Hiện, khung thể chế về AI của Việt Nam đã hình thành với ba lớp: Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 - đạo luật riêng đầu tiên của Việt Nam về AI; Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật và Thông tư số 05/2026/TT-BKHCN ban hành Khung đạo đức AI quốc gia.

Ông Thắng nhấn mạnh, Luật AI không chỉ là một đạo luật dành cho ngành công nghệ, đó còn là một đạo luật có ý nghĩa kinh tế. Theo ông, có 3 vấn đề cần được quán triệt trong quá trình triển khai Luật AI.

Thứ nhất, sử dụng AI chưa đồng nghĩa với nâng cao năng suất. Công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi đi cùng dữ liệu tốt, quy trình phù hợp và con người có kỹ năng. Thứ hai, có thể giao việc cho máy, nhưng trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về con người. Thứ ba, thể chế không chỉ để quản lý công nghệ và phải mở đường để công nghệ phục vụ phát triển.

“Thực hiện tốt những yêu cầu đó, AI sẽ không chỉ là một công cụ mới, mà trở thành một động lực thực sự của năng suất doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới”, ông Thắng tin tưởng.

Minh Châu

Đan Thanh