Văn hóa - Thể thao

Mô hình quán cà phê trong bảo tàng, tại sao không?

H.Sen 07/07/2026 18:08

Xây dựng mô hình quán cà phê trong bảo tàng là để nơi đây sống động hơn, công nghiệp văn hóa gần đời sống hơn, di sản có khả năng đối thoại với hiện tại hơn. Công chúng không chỉ đến bảo tàng để xem, mà còn để cảm, nghĩ, trò chuyện, sáng tạo, và để mang một phần ký ức văn hóa trở về với cuộc sống của mình.

Đây là ý kiến của các đại biểu tại tọa đàm “Mô hình O café - Time Talks… - Đối thoại với thời gian” chiều 7/7 do Trung tâm Nghiên cứu phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (S-DCI) kết hợp với Bảo tàng Hà Nội tổ chức.

Giám đốc S-DCI, TS. KTS. Nguyễn Thu Hạnh cho biết: Việt Nam hiện sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú với hệ thống di sản vật thể, phi vật thể, bảo tàng, lễ hội, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế, ẩm thực và nhiều loại hình sáng tạo khác. Đây là nền tảng để hình thành hệ sinh thái của 12 ngành công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, trên thực tế, các nguồn lực này vẫn chủ yếu phát triển theo từng lĩnh vực riêng lẻ, chưa hình thành được những mô hình liên kết đủ mạnh để tạo ra chuỗi giá trị tổng hợp, gia tăng trải nghiệm cho công chúng và tạo nguồn thu bền vững từ di sản.

2aoboqik8hhq9kfp1thrmjtjeq4muz8a9iplvhha.jpg
PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội phát biểu tại tọa đàm

Theo TS.KTS. Nguyễn Thu Hạnh, khảo sát thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, hầu hết các thiết chế văn hóa hiện vẫn hoạt động theo mô hình truyền thống: bảo tàng chủ yếu thực hiện chức năng bảo quản và trưng bày; nghệ thuật biểu diễn diễn ra tại các nhà hát độc lập; thiết kế sáng tạo phát triển tách biệt với không gian di sản. Du lịch văn hóa chủ yếu khai thác tham quan, ẩm thực và dịch vụ chưa trở thành sản phẩm văn hóa đặc thù. Các hoạt động truyền thông, xuất bản, điện ảnh, quảng cáo... thiếu điểm giao thoa.

Điều này dẫn tới một số điểm nghẽn lớn như: thiếu không gian kết nối đồng thời 12 ngành công nghiệp văn hóa và khả năng nhân rộng mô hình trên phạm vi quốc gia; thiếu sản phẩm có khả năng lưu giữ khách lâu hơn tại các thiết chế văn hóa; thiếu cơ chế phối hợp và chia sẻ lợi ích giữa các chủ thể; giá trị di sản chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị kinh tế sáng tạo.

Trong khi đó, nhu cầu của xã hội hiện nay không chỉ dừng ở việc tham quan di sản, mà còn hướng tới trải nghiệm, tương tác, đối thoại và sáng tạo cùng di sản. Đây chính là khoảng trống lớn cần được nghiên cứu để làm nền tảng cho nhận thức và hành động sắp tới của ngành Công nghiệp văn hóa.

t4.jpg
Chủ tịch Hội Khoa học Thể dục Thể thao Việt Nam, PGS.TS. Lê Đức Chương chia sẻ ký ức về Hà Nội xưa

Từ thực trạng trên, các đại biểu đã thảo luận: có thể xây dựng một không gian kết nối đồng thời 12 ngành công nghiệp văn hóa hay không? Không gian đó cần được tổ chức như thế nào để vừa bảo tồn vừa phát huy giá trị di sản và đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực? Cơ chế nào giúp Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia đầu tư, vận hành và hưởng lợi?...

Trong khuôn khổ tọa đàm, các đại biểu cũng đề xuất khái niệm "không gian liên kết phát triển 12 ngành công nghiệp văn hóa"; áp dụng triết lý Time Talks trong xây dựng và vận hành mô hình Ocafe -Time Talk…; giải pháp để triển khai mô hình Ocafe - Time Talk Hồ Gươm - thử nghiệm tại Bảo tàng Hà Nội.

Về mô hình Ocafe - Time Talks trong khuôn viên Bảo tàng Hà Nội, dự kiến lượng khách tham quan ổn định, quy mô đầu tư vừa phải, dễ huy động nguồn lực xã hội hóa. Mô hình này cũng phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và chiến lược xây dựng Hà Nội trở thành Thành phố sáng tạo của UNESCO.

t3.jpg
Toàn cảnh tọa đàm

Nhận xét về mô hình Ocafé - Time Talks - không gian liên kết phát triển các ngành công nghiệp văn hóa nói chung và tại Bảo tàng Hà Nội, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội cho rằng đây không chỉ là câu chuyện về việc mở thêm một quán cà phê trong bảo tàng.

"Điều quan trọng hơn là chúng ta đang bàn về cách làm cho bảo tàng sống động hơn, công nghiệp văn hóa gần đời sống hơn, di sản có khả năng đối thoại với hiện tại hơn, công chúng không chỉ đến bảo tàng để xem, mà còn để cảm, để nghĩ, để trò chuyện, để sáng tạo, để mang một phần ký ức văn hóa trở về với cuộc sống của mình", PGS.TS. Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Một câu chuyện về Hà Nội, nếu được tổ chức tốt, có thể trở thành triển lãm trong bảo tàng, tour đi bộ trong phố cổ, phim tài liệu, podcast, bộ ảnh, sách, chương trình biểu diễn, sản phẩm lưu niệm, thiết kế thời trang, trò chơi giáo dục, nội dung số, sự kiện văn hóa đêm, quà tặng ngoại giao.

Theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, "khi đó, một tài nguyên văn hóa không chỉ có một đời sống, mà có nhiều đời sống. Một ký ức không chỉ được cất giữ, mà được làm mới. Một hiện vật không chỉ để ngắm nhìn, mà trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo. Đó là vai trò quan trọng nhất của mô hình liên kết: làm cho các giá trị văn hóa gặp nhau, cộng hưởng và tạo ra giá trị mới...".

H.Sen