Quốc hội và Cử tri

Tăng cường giám sát thực thi Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam

Nhật An 28/06/2026 21:56

Tại hội thảo “công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn mới”, nhiều ý kiến cho rằng, để tạo cú hích đột phá cho ngành cơ khí và chế tạo, cần đồng bộ ba mũi nhọn: hoàn thiện hành lang pháp lý, ưu đãi nguồn vốn, và cơ chế tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nội địa tích cực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thiếu liên kết giữa khoa học công nghệ và sản xuất thương mại, doanh nghiệp cơ khí, chế tạo khó vươn mình

Năm 2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng trưởng 8,4%, tiếp tục là động lực chính kéo GDP cả nước đạt 7,09%. Xu hướng tích cực này duy trì bền vững xuyên suốt năm 2025 và quý I/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp luôn giữ sắc xanh ổn định.

d0d9740829704030a07dad3ab77be4d3-82933.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: ITN

Hiện nay, cả nước có khoảng 3.100 doanh nghiệp cơ khí, chế tạo với hơn 53.000 cơ sở sản xuất, chiếm gần 30% tổng số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam. Trong nước cũng đã hình thành được những tập đoàn tư nhân mạnh như THACO Industries, VinFast… bên cạnh các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như Tập đoàn dầu khí, Tập đoàn than khoảng sản, Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam. Việt Nam hiện đã tự chủ sản xuất và lắp ráp hầu hết các chủng loại xe ô tô con, xe tải, xe khách; chỉ số sản xuất cơ khí, máy móc thiết bị có giai đoạn tăng trưởng ấn tượng từ 4,6% - 5%.

Bên cạnh các điểm sáng, số liệu thống kê cũng cho thấy, ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo của nước ta còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thị phần sân nhà bị bỏ ngỏ do năng lực nội tại còn hạn chế, sản phẩm cơ khí sản xuất trong nước hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 7% nhu cầu thị trường nội địa. Phần lớn dung lượng thị trường khổng lồ trị giá hàng chục tỷ USD mỗi năm vẫn đang phụ thuộc vào nhập khẩu hoặc do doanh nghiệp FDI chi phối.

Khoảng 70% - 80% doanh nghiệp cơ khí, chế tạo trong nước là quy mô nhỏ và vừa (SMEs), năng lực tài chính yếu, thiết bị công nghệ chậm đổi mới từ 1 - 2 thế hệ.

Tỷ lệ nội địa hóa các phân ngành công nghiệp trọng điểm như ô tô, đường sắt, máy nông nghiệp vẫn thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra tại Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Doanh nghiệp nội địa chủ yếu gia công công đoạn thô, giá trị gia tăng thấp, chưa làm chủ được công nghệ lõi và vật liệu gốc.

Phân tích những hạn chế, vướng mắc liên quan tới thể chế, chính sách khiến ngành cơ khí, chế tạo trong nước chưa thể lớn mạnh tương xứng với kỳ vọng, tham luận của Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam nêu thực trạng thiếu những “đơn hàng lớn” mang tính chiến lược từ các dự án đầu tư công của Chính phủ (như đường sắt tốc độ cao, nhà máy điện, hạ tầng giao thông) khiến các doanh nghiệp nội địa mất đi cơ hội để phát triển.

567.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên chủ trì hội thảo “Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn mới”. Ảnh: Hồ Long

Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn tản mạn, thiếu tập trung. Mặc dù Nghị định số 205/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển công nghiệp đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi về thuế, tín dụng. Tuy nhiên, quy trình tiếp cận tín dụng ưu đãi còn quá phức tạp, rào cản hành chính cao khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ gần như không thể thụ hưởng.

Sự thiếu liên kết giữa khoa học công nghệ và sản xuất thương mại cũng tạo thêm trở ngại cho doanh nghiệp cơ khí, chế tạo trong nước vươn mình mạnh mẽ. Tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chưa tới 0,5% doanh thu (trong khi ở các nước tiên tiến là 3 - 5%). Các viện nghiên cứu, trường đại học chưa có cơ chế thương mại hóa hiệu quả các sáng chế thiết thực phục vụ cho doanh nghiệp sản xuất.

Tạo cú hích cho ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo phát triển

Từ thực tế đó, Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam kiến nghị, Quốc hội cần sớm ban hành các nghị quyết hoặc luật hóa quy định: các dự án trọng điểm quốc gia (như dự án Đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, các dự án điện gió ngoài khơi, hạ tầng giao thông đô thị) giao cho các tập đoàn, tổng công ty có đủ năng lực chủ trì.

Sự hiện diện của các doanh nghiệp toàn cầu là động lực lớn buộc cơ khí chính xác phải tái định vị công nghệ cơ khí chính xác trước cú hích chuỗi giá trị toàn cầu. Do vậy, cần có cơ chế hợp tác giữa đơn vị chủ trì với các tập đoàn, tổng công ty trong nước với các doanh nghiệp toàn cầu theo hướng phát huy thế mạnh của từng tập đoàn, tổng công ty; có cam kết lộ trình nội địa hóa theo từng giai đoạn 2026 - 2045 cùng các danh mục nội địa hóa cụ thể, trong đó ưu tiên các sản phẩm chiến lược, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi. Sử dụng quyền mua sắm công của Chính phủ để tạo “đơn hàng mồi”, kích thích các tập đoàn lớn mạnh dạn đầu tư vào khâu thiết kế, tích hợp hệ thống.

toan-canh(1).jpg
Toàn cảnh Hội thảo

Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam cũng kiến nghị, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội tăng cường giám sát tối cao việc thực thi Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam tại các Bộ, ngành và địa phương.

Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam đề xuất, cần nghiên cứu, ưu tiên đưa dự án Luật Công nghiệp trọng điểm vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội trong nhiệm kỳ này nhằm tạo nền tảng pháp lý vững chắc hơn cho sự phát triển nền công nghiệp của đất nước. Trong đó, cần có cơ chế chính sách ưu đãi cho cho tổ hợp công nghiệp tập trung nghiên cứu làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; thiết kế cơ chế hợp tác giữa Tổ hợp công nghiệp và các doanh nghiệp trong nước để thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ. Thiết lập Quỹ hỗ trợ phát triển cơ khí chế tạo quốc gia với lãi suất vay dài hạn cố định (dưới 3% - 4%/năm), hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động đổi mới công nghệ lõi.

Nhật An