Khoa học - Công nghệ

Công nghệ giúp khu công nghiệp tiết kiệm tới 30% năng lượng

Lam Ngọc 30/06/2026 14:37

Khu công nghiệp hiện tiêu thụ khoảng 47% tổng lượng điện cả nước nhưng vẫn còn dư địa tiết kiệm 20-30% nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ và quản lý năng lượng. Đây là một trong những trọng tâm được các chuyên gia khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Lam Ngọc
Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Lam Ngọc

Luật mới siết trách nhiệm, hoàn thiện khung pháp lý

Sau 15 năm thực thi, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được sửa đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới khi Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi xanh, giảm phát thải và thực hiện các cam kết quốc tế về khí hậu.

Tại Hội thảo "Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Lực đẩy từ chính sách và công nghệ" do Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) tổ chức, ông Hà Đăng Sơn, Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh cho biết, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động quản lý năng lượng trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật này.

Điểm thay đổi lớn nhất của Luật số 77 là chuyển tư duy quản lý từ khuyến khích sang tăng cường trách nhiệm tuân thủ. Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu được hướng dẫn từng bước xây dựng hệ thống quản lý năng lượng thì nay nhiều quy định đã trở thành yêu cầu bắt buộc, đặc biệt đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm.

Bên cạnh đó, Luật mới đẩy mạnh phân cấp cho địa phương. Vai trò của Sở Công Thương các tỉnh, thành phố được tăng cường trong công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện các quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Một điểm mới khác là quy định về dán nhãn năng lượng được mở rộng cả về phạm vi áp dụng lẫn phương thức quản lý. Ngoài các thiết bị tiêu thụ năng lượng truyền thống, quy định mới còn áp dụng với vật liệu xây dựng, hàng hóa kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử. Đồng thời, doanh nghiệp được tự công bố kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn kỹ thuật và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin công bố.

Đáng chú ý, Luật số 77 lần đầu tiên luật hóa mô hình doanh nghiệp dịch vụ năng lượng (ESCO) và hợp đồng hiệu quả năng lượng (EPC). Theo ông Sơn, đây là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho các dự án tiết kiệm năng lượng.

Trước những thay đổi này, ông Hà Đăng Sơn cho rằng doanh nghiệp cần chủ động rà soát tình hình sử dụng năng lượng, xác định có thuộc nhóm cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm hay không để xây dựng kế hoạch tuân thủ phù hợp. Cùng với đó, cần đầu tư hệ thống đo đếm, quản lý dữ liệu, chuẩn hóa công tác báo cáo và tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp ESCO cũng như các tổ chức tài chính nhằm triển khai hiệu quả các dự án tiết kiệm năng lượng.

Công nghệ mở dư địa tiết kiệm tới 30% năng lượng

Nếu khung pháp lý là động lực từ phía chính sách thì công nghệ được xem là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu tiết kiệm năng lượng trong sản xuất.

Theo các chuyên gia tại hội thảo, khu công nghiệp và cụm công nghiệp hiện tiêu thụ khoảng 47% tổng lượng điện của cả nước. Với 536 khu công nghiệp, trong đó hơn 400 khu đã đi vào hoạt động, nhu cầu năng lượng sẽ tiếp tục gia tăng cùng quá trình công nghiệp hóa, nhất là tại Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng.

Năng lượng trong các khu công nghiệp hiện chủ yếu được sử dụng cho hai nhóm hoạt động. Thứ nhất là hệ thống hạ tầng dùng chung như cấp nước, xử lý nước thải, chiếu sáng công cộng và phân phối điện. Thứ hai là các dây chuyền sản xuất với những thiết bị tiêu thụ nhiều năng lượng như động cơ điện, máy nén khí, lò hơi, hệ thống nhiệt - lạnh.

Đây đều là những lĩnh vực còn nhiều dư địa nâng cao hiệu suất. Theo các nghiên cứu được công bố tại hội thảo, nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp quản lý và công nghệ, khu công nghiệp có thể tiết kiệm từ 20-30% tổng năng lượng tiêu thụ. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí vận hành mà còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Theo ông Nguyễn Trọng Hậu, Trưởng phòng Tư vấn Giải pháp, Công ty Cổ phần Giải pháp Công nghệ Việt Nam, bước đầu tiên để tối ưu hóa năng lượng là thực hiện kiểm toán năng lượng. Doanh nghiệp cần lưu trữ dữ liệu tiêu thụ tối thiểu ba năm nhằm đánh giá xu hướng và xác định các khu vực còn tiềm năng tiết kiệm.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống giám sát trực tuyến đang trở thành xu hướng tất yếu. Những công nghệ này giúp tự động thu thập dữ liệu, phân tích hoạt động của thiết bị, phát hiện sớm các bất thường và tối ưu quá trình vận hành theo thời gian thực.

Một hướng đi khác được nhiều chuyên gia đánh giá cao là phát triển khu công nghiệp sinh thái. Thông qua mô hình cộng sinh công nghiệp, chất thải hoặc năng lượng dư thừa của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp khác, qua đó giảm tiêu hao tài nguyên, cắt giảm chi phí và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Để hiện thực hóa mục tiêu tiết kiệm năng lượng, ông Nguyễn Trọng Hậu cho rằng ban quản lý các khu công nghiệp cần rà soát, tối ưu hệ thống cấp nước, xử lý nước thải và mạng lưới phân phối điện nhằm giảm tổn thất. Với hệ thống chiếu sáng, ngoài việc sử dụng đèn LED, cần áp dụng các giải pháp điều khiển thông minh theo thời gian và theo mùa để nâng cao hiệu quả sử dụng điện.

Đối với doanh nghiệp sản xuất, việc kiểm toán năng lượng định kỳ cần được ưu tiên, nhất là ở các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, xi măng, giấy, hóa chất và dệt may. Song song với đó là xây dựng lộ trình cải thiện hiệu suất cho các hệ thống trọng điểm như lò hơi, máy nén khí; mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển sang sử dụng năng lượng sạch và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 50001.

Theo các chuyên gia, để thúc đẩy quá trình này, chính sách hỗ trợ cũng cần tiếp tục được hoàn thiện. Nhà nước cần khuyến khích nhân rộng mô hình khu công nghiệp sinh thái, xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động cộng sinh công nghiệp, đồng thời mở rộng các cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và tín dụng xanh để doanh nghiệp có thêm nguồn lực đầu tư đổi mới công nghệ.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, việc kết hợp giữa một khung pháp lý chặt chẽ hơn với các giải pháp công nghệ hiện đại được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Lam Ngọc