15 nguyện vọng và bài toán chọn ngành năm 2026: Ít hơn để chính xác hơn
Mùa tuyển sinh đại học 2026 với nhiều thay đổi về nguyện vọng, phương thức xét tuyển và xét học bạ đang đặt ra yêu cầu mới cho thí sinh: không chọn nhiều để “chắc suất”, mà cần hiểu rõ năng lực, sở thích và cơ hội nghề nghiệp để đưa ra những lựa chọn chính xác hơn.
Những điều chỉnh trong Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của phụ huynh, học sinh trên cả nước. Trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết, những thay đổi này hướng tới mục tiêu bảo đảm công bằng, nâng cao chất lượng đầu vào và giúp thí sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp hơn với năng lực của bản thân.
Thay đổi hướng tới đánh giá thực chất
Mùa tuyển sinh đại học năm 2026 đánh dấu một loạt thay đổi quan trọng trong công tác xét tuyển. Theo quy định, thí sinh được đăng ký tối đa 15 nguyện vọng và mỗi cơ sở đào tạo được sử dụng tối đa 5 phương thức xét tuyển.
Trước những băn khoăn của phụ huynh và học sinh về lý do của các điều chỉnh này, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng cho biết Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành rà soát, phân tích rất kỹ dữ liệu tuyển sinh của nhiều năm gần đây, đồng thời khảo sát ý kiến từ thí sinh, phụ huynh và các cơ sở giáo dục đại học.
Theo đó, kết quả thống kê cho thấy phần lớn thí sinh trúng tuyển trong khoảng 10 nguyện vọng đầu tiên. Trong khi đó, ở nhiều trường đại học, số lượng phương thức xét tuyển ngày càng tăng nhưng hiệu quả tuyển sinh thực tế lại không tương xứng. Không ít phương thức được triển khai song số lượng thí sinh trúng tuyển và nhập học rất thấp.
“Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến của tất cả các bên liên quan, quy chế năm nay có những điều chỉnh kỹ thuật như giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký xét tuyển của thí sinh hay giới hạn số phương thức xét tuyển của cơ sở đào tạo. Đích đến cuối cùng vẫn là tạo sự thuận lợi nhất cho thí sinh, đồng thời thể hiện được mong muốn, nguyện vọng của các em một cách rõ ràng nhất”, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng nhấn mạnh.

Theo phân tích của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc không giới hạn nguyện vọng trong những năm qua đã dẫn tới tình trạng nhiều thí sinh đăng ký số lượng nguyện vọng rất lớn, trong khi phần lớn không có nhu cầu thực sự đối với tất cả các lựa chọn đó. Điều này không chỉ làm gia tăng chi phí xã hội mà còn khiến dữ liệu tuyển sinh trở nên phức tạp, “gây nhiễu” cho công tác dự báo nguồn tuyển.
Ngoài ra việc giới hạn nguyện vọng còn nhằm thúc đẩy công tác tư vấn tuyển sinh đi vào chiều sâu. Khi số lượng lựa chọn không còn quá rộng, thí sinh và gia đình sẽ phải cân nhắc kỹ hơn về năng lực, sở thích, điều kiện học tập cũng như cơ hội nghề nghiệp trước khi đưa ra quyết định.
Bên cạnh đó, một trong những điểm mới nhận được nhiều sự quan tâm nhất là việc xét tuyển bằng học bạ từ năm 2026 sử dụng kết quả của cả 6 học kỳ bậc THPT, đồng thời gắn với ngưỡng điểm tối thiểu theo quy định của cơ sở đào tạo.
Theo PGS.TS Nguyễn Anh Dũng, đây là điều chỉnh nhằm đưa phương thức xét học bạ trở về đúng bản chất là đánh giá toàn diện quá trình học tập của học sinh. Việc sử dụng kết quả của cả 6 học kỳ sẽ tạo tác động tích cực đối với quá trình học tập và rèn luyện xuyên suốt của học sinh ở bậc THPT. Thay vì tập trung vào một vài học kỳ nhất định, học sinh cần duy trì sự nỗ lực ổn định trong toàn bộ quá trình học tập.
Đặc biệt, yêu cầu bắt buộc phải có kết quả học kỳ II lớp 12 cũng xuất phát từ thực tiễn đào tạo đại học. Dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đại học cho thấy những kiến thức được học trong giai đoạn cuối cấp có vai trò quan trọng đối với khả năng thích ứng và học tập ở môi trường đại học.
Kết quả thi tốt nghiệp THPT hiện nay cũng có trọng số đáng kể đối với nội dung kiến thức lớp 12, đặc biệt là học kỳ II. Vì vậy, việc học tập nghiêm túc đến cuối năm học không chỉ giúp học sinh đạt kết quả tuyển sinh tốt hơn mà còn góp phần củng cố nền tảng kiến thức cần thiết cho giai đoạn học tập tiếp theo.
“Việc tập trung học tập ổn định trong toàn bộ quá trình sẽ góp phần củng cố kiến thức nền tảng để các em có thể đáp ứng yêu cầu theo học những chương trình đào tạo mà mình mong muốn”, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhận định.
Bên cạnh đó, việc xác lập ngưỡng tối thiểu cũng nhằm bảo đảm công bằng giữa các thí sinh trên phạm vi toàn quốc. Theo lãnh đạo Vụ Giáo dục đại học, giáo dục đại học hiện nay tiếp cận theo hướng phát triển năng lực. Do đó, dù học sinh có thể nổi trội ở một số môn học nhất định, nhưng kiến thức nền tảng ở tất cả các lĩnh vực vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực tổng thể.
Không tuyệt đối hóa chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế
Một thay đổi khác đang được quan tâm là việc chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế sẽ không còn mang lại lợi thế tuyệt đối như trước trong xét tuyển đại học.
Theo PGS.TS Nguyễn Anh Dũng, Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn toàn ghi nhận giá trị và độ tin cậy của các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ hội tiếp cận các chứng chỉ này hiện vẫn chưa đồng đều giữa các vùng miền.
Học sinh ở nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi hoặc vùng khó khăn, còn gặp nhiều hạn chế về điều kiện học tập, chi phí dự thi và khả năng tiếp cận các kỳ thi quốc tế; điều đó không đồng nghĩa với việc các em có năng lực ngoại ngữ kém hơn.

Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương vừa tiếp tục khuyến khích học sinh học ngoại ngữ, vừa không để chứng chỉ quốc tế trở thành yếu tố quyết định duy nhất trong quá trình xét tuyển.
“Chúng ta không tuyệt đối hóa các chứng chỉ ngoại ngữ để đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học chất lượng tốt cho tất cả các em thí sinh có năng lực”, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng khẳng định.
Theo kết quả phân tích của Bộ, tại nhiều chương trình đào tạo, sinh viên không sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng vẫn đạt kết quả học tập tương đương, thậm chí nổi bật so với những sinh viên có chứng chỉ. Điều này cho thấy chứng chỉ ngoại ngữ là một lợi thế, nhưng không phải thước đo duy nhất phản ánh năng lực học tập của người học.
Qua đó, nhắn nhủ một thông điệp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi tới các cơ sở đào tạo là cùng đồng hành để mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học chất lượng cho mọi học sinh, bất kể điều kiện kinh tế hay vùng miền sinh sống.
Ngành “hot” phải đi cùng chất lượng thực
Trong bối cảnh hàng loạt trường đại học mở ngành mới liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu số, công nghệ bán dẫn hay chuyển đổi số, không ít phụ huynh lo ngại về nguy cơ phát triển nóng, chạy theo xu hướng mà chưa bảo đảm điều kiện đào tạo.
Nhìn nhận về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng cho rằng đây là tín hiệu tích cực, phản ánh tính năng động và khả năng thích ứng của các cơ sở giáo dục đại học trước yêu cầu phát triển mới của đất nước và thị trường lao động. Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là trách nhiệm bảo đảm chất lượng.
Thứ nhất, để kiểm soát chất lượng chính là công khai, minh bạch thông tin. Các trường đại học phải cung cấp đầy đủ dữ liệu về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, điều kiện học tập, kết quả đầu ra và khả năng việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp.
Thứ hai, cần quan tâm đảm bảo hệ thống tiêu chuẩn và cơ chế hậu kiểm. Thay vì quản lý theo hướng can thiệp hành chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chuyển mạnh sang mô hình kiến tạo, trao quyền tự chủ nhưng tăng cường giám sát thông qua các chuẩn chất lượng.
Đáng chú ý, các chuẩn này không phải là những tiêu chí cố định mà sẽ được cập nhật thường xuyên để phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội và thị trường lao động.
Ngoài ra, quá trình bảo đảm chất lượng còn có sự tham gia của nhiều bên liên quan như doanh nghiệp, người học, cựu sinh viên và đơn vị sử dụng lao động.
Theo PGS.TS Nguyễn Anh Dũng, nhiều chỉ số mới đã được đưa vào hệ thống đánh giá, trong đó có tỷ lệ sinh viên thôi học sau năm thứ nhất, mức độ hài lòng của người học hay phản hồi của nhà tuyển dụng.
“Những chỉ số này giúp các trường có bức tranh tổng thể về chương trình đào tạo, sự gắn kết giữa chương trình, người học, người giảng dạy và các điều kiện bảo đảm chất lượng, từ đó có lộ trình cải tiến phù hợp”, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết.
Trước những lo ngại được ghi nhận từ phía học sinh về việc liệu trí tuệ nhân tạo có thể thay thế nhiều nghề nghiệp trong tương lai hay không. PGS.TS Nguyễn Anh Dũng khẳng định trong bối cảnh công nghệ phát triển rất nhanh, điều quan trọng nhất đối với học sinh phổ thông không phải là chạy theo mọi xu hướng mới, mà là xây dựng nền tảng kiến thức thật vững chắc.
“Dù công nghệ phát triển thế nào cũng phải dựa trên kiến thức nền tảng. Khi làm chủ được nền tảng, các em sẽ là người nắm bắt công nghệ lõi trong tương lai. Và khi đã nắm bắt được công nghệ lõi thì chắc chắn không ai có thể thay thế được”, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng nhấn mạnh.
Thông điệp này cũng là lời khuyên quan trọng dành cho học sinh trong quá trình lựa chọn ngành nghề. Thay vì chỉ nhìn vào những ngành học đang “nóng”, các em cần quan tâm nhiều hơn tới năng lực cốt lõi, khả năng học tập lâu dài và sự phù hợp với bản thân.

Liên quan đến quá trình đăng ký xét tuyển, lãnh đạo Vụ Giáo dục đại học khuyến cáo thí sinh nên ưu tiên tìm hiểu thông tin từ các website chính thức và cổng thông tin tuyển sinh của các cơ sở đào tạo. Đây là nơi cung cấp đầy đủ dữ liệu về ngành học, điều kiện bảo đảm chất lượng, yêu cầu đầu vào cũng như kết quả đầu ra của từng chương trình đào tạo.
Đặc biệt, PGS.TS Nguyễn Anh Dũng lưu ý thí sinh không cần quá lo lắng về việc lựa chọn phương thức xét tuyển. Theo cơ chế hiện hành, thí sinh chỉ cần đăng ký ngành học và cơ sở đào tạo theo thứ tự ưu tiên mong muốn. Hệ thống tuyển sinh sẽ tự động rà soát toàn bộ dữ liệu mà thí sinh có để xét tuyển theo phương thức mang lại kết quả tốt nhất.
“Các em không phải lo đến việc lựa chọn phương thức xét tuyển. Hệ thống sẽ quét tất cả các phương thức xét tuyển của cơ sở đào tạo mà dữ liệu các em có, để tổ chức tuyển sinh với kết quả cao nhất”, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết.
Đối với việc điều chỉnh nguyện vọng, thí sinh vẫn được phép thay đổi trong suốt thời gian đăng ký. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến nghị không nên chờ tới những giờ cuối cùng mới thực hiện điều chỉnh nhằm hạn chế rủi ro kỹ thuật hoặc sai sót trong quá trình thao tác.