Chiến lược "sàng lọc tinh chất" đầu tư nước ngoài
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thay đổi toàn diện phương thức và tư duy thu hút dòng vốn này trong giai đoạn mới. Những vấn đề cốt lõi nhất của Nghị quyết nằm ở sự chuyển dịch tư duy chiến lược, hệ sinh thái đầu tư, và các mục tiêu định lượng cụ thể.
Những giá trị cốt lõi
Thay đổi cốt lõi trong tư duy chiến lược và chuyển từ số lượng sang chất lượng là điểm nhấn quan trọng nhất của Nghị quyết, thể hiện qua 3 sự chuyển dịch lớn.
Một là, chuyển từ thu hút vốn sang xây dựng nền tảng, trong đó chuyển mạnh từ tư duy "chủ yếu thu hút vốn" (theo dòng tiền đổ vào) sang tư duy "phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia". Hai là, chuyển từ địa giới sang hệ sinh thái, dòng vốn sẽ được định hướng theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Ba là, thay đổi tiêu chí và cách thức ưu đãi, theo đó, lấy chất lượng, hiệu quả, khả năng chuyển giao công nghệ và giá trị gia tăng làm thước đo chủ yếu; đặc biệt, chuyển dần từ ưu đãi dựa trên đầu vào sang hỗ trợ gắn liền với kết quả thực hiện cam kết và quản trị cả vòng đời dự án.

Nghị quyết đã định hình hệ sinh thái đầu tư đồng bộ và nâng cao tính tự chủ khi đặt dòng vốn đầu tư nước ngoài trong mối quan hệ hữu cơ với nội lực quốc gia, gắn kết vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó, mở rộng không gian kinh tế, gắn kết dòng vốn với việc xây dựng các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, hạ tầng logistics, dữ liệu và năng lượng. Nghị quyết cũng khuyến khích các tập đoàn nước ngoài không chỉ mở nhà máy gia công mà phải hình thành trụ sở khu vực, các trung tâm điều hành, nghiên cứu (R&D), thiết kế và dịch vụ tại Việt Nam.
Để hiện thực hóa tầm nhìn, Bộ Chính trị đặt ra các mục tiêu định lượng cụ thể và rất thách thức cho giai đoạn 2026 - 2030. Ngoài các chỉ tiêu về quy mô vốn, thu hút vốn đăng ký là các chỉ tiêu về tính lan tỏa nội địa, tỷ lệ nội hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực, về nhân lực và hạ tầng xanh, về thị trường vốn.
Nghị quyết cam kết Nhà nước công nhận, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, kiến tạo một môi trường kinh doanh minh bạch, chi phí tuân thủ thấp và có tính dự báo cao theo thông lệ quốc tế. Đồng thời, ưu tiên giải quyết các tranh chấp, kiến nghị dựa trên nguyên tắc hài hòa lợi ích, khuyến khích thông qua hòa giải và trọng tài thương mại.
Nhận diện thách thức
Từ thực tiễn thu hút vốn đầu tư nước ngoài thời gian qua, có thể thấy trong Nghị quyết 10 có một số mục tiêu và định hướng khá thách thức trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay. Việc nhận diện những điểm nghẽn này cũng là cơ sở để gợi mở các giải pháp nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết.
Vấn đề thứ nhất là mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên khoảng 45 - 50% và đưa 10.000 doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bởi khoảng cách về năng lực. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là quy mô nhỏ và vừa, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu và năng lực quản trị hạn chế, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia. Nhiều năm qua, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khối doanh nghiệp nội địa thiếu sự liên kết hữu cơ.
Vậy nên chăng cần ưu đãi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài theo cơ chế "hỗ trợ gắn với kết quả", tập đoàn nào cam kết và thực hiện chuyển giao công nghệ, sử dụng tỷ lệ nhà cung ứng nội địa cao hơn sẽ nhận được các gói hỗ trợ đặc biệt về chi phí R&D. Nhà nước đứng ra làm cầu nối, phối hợp với các tập đoàn lớn để mở ra các chương trình đào tạo và chuẩn hóa quy trình sản xuất cho các nhà cung ứng nội địa. Hoặc xem xét cấp tín dụng chuỗi cung ứng, giúp giúp doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia hoặc có khả năng tham gia chuỗi cung ứng tiếp cận nguồn vốn để nâng cấp công nghệ và nhà xưởng.
Mục tiêu thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở khu vực hoặc Trung tâm R&D tại Việt Nam cũng là một thách thức khi các quốc gia trong khu vực đang chạy đua để dành vị thế "đại bản doanh" công nghệ bằng nhiều chính sách vượt trội. Hạ tầng và năng lượng có thể là rào cản, nhất là khi các trung tâm dữ liệu và trung tâm R&D công nghệ cao đòi hỏi nguồn năng lượng sạch cực kỳ ổn định và hạ tầng băng thông rộng kết nối quốc tế không độ trễ. Việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu làm giảm đáng kể sức hút của các chính sách miễn, giảm thuế truyền thống của Việt Nam đối với các tập đoàn đa quốc gia, cho nên có thể phải chuyển từ ưu đãi thuế sang hỗ trợ trực tiếp vào chi phí đầu tư ban đầu.
Chỉ tiêu tỷ trọng lao động qua đào tạo đạt 80% và người Việt làm chủ các vị trí quản lý, kỹ thuật cao cấp cũng là một nhiệm vụ khá thách thức, bởi hệ thống giáo dục chưa bắt kịp tốc độ phát triển của các ngành công nghệ cốt lõi mới như chip bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, và tài chính số. Do đó, cần xây dựng mô hình hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tham gia thiết kế chương trình đào tạo và phát triển các trung tâm đào tạo chuyên sâu cho các ngành công nghệ chiến lược. Đồng thời, nhà đầu tư cần có lộ trình chuyển giao các vị trí quản lý và kỹ thuật cao cấp cho nhân sự Việt Nam.
Dòng vốn chất lượng cao sẽ chảy vào đâu?
Dựa trên định hướng của Nghị quyết 10, với trọng tâm là xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, Việt Nam cần tập trung thu hút vốn vào 5 lĩnh vực cốt lõi.
Thứ nhất là các ngành công nghệ cao mũi nhọn như bán dẫn, vi mạch và trí tuệ nhân tạo (AI). Định hướng là chuyển dịch từ phân khúc hạ nguồn như đóng gói, kiểm thử sang thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thiết kế vi mạch, chế tạo vật liệu bán dẫn, và xây dựng các hệ sinh thái ứng dụng AI, dữ liệu lớn để thu hút các "ông lớn" thiết kế chip và phần mềm toàn cầu lập văn phòng, chuyển giao bản quyền công nghệ cho kỹ sư Việt Nam.
Thứ hai là hạ tầng và năng lượng xanh. Để thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) ngày càng khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia, Việt Nam buộc phải mở cửa mạnh mẽ hơn ở mảng năng lượng. Trọng tâm là ưu tiên thu hút các tập đoàn có thế mạnh công nghệ độc quyền về điện gió ngoài khơi, hạ tầng truyền tải lưới điện thông minh, sản xuất hydro xanh và các tổ hợp công nghiệp sinh thái tự tuần hoàn năng lượng để giải quyết triệt để "bài toán khát điện sạch" của các nhà máy công nghệ cao hiện nay.
Thứ ba là kinh tế dịch vụ cao cấp như Trung tâm Tài chính Quốc tế hay Fintech, Nghị quyết 10 nhấn mạnh việc phát triển dòng vốn gián tiếp, các quỹ đầu tư và định chế tài chính lớn toàn cầu qua việc thí điểm các cơ chế thông thoáng hơn tại Trung tâm tài chính quốc tế, mở rộng cửa cho các quỹ quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư quốc tế, dịch vụ thanh toán xuyên biên giới, và quản trị rủi ro số.
Thứ tư là hạ tầng dữ liệu và kinh tế số. Để hiện thực hóa mục tiêu thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đặt đại bản doanh hoặc trung tâm điều hành khu vực tại Việt Nam, cần phát triển các cấu phần ở phân khúc thượng nguồn của nền kinh tế số. Trong đó, ưu tiên xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn đạt chuẩn quốc tế, trung tâm tính toán hiệu năng cao và hạ tầng số hiện đại, qua đó từng bước đưa Việt Nam trở thành trung tâm điều hành chuỗi cung ứng và dịch vụ số của khu vực, thay vì chỉ là địa điểm sản xuất.
Thứ năm là y sinh, công nghệ sinh học và y tế chuyên sâu. Đây là lĩnh vực có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng cao và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng vào nghiên cứu, sản xuất thuốc phát minh (biologics), vaccine thế hệ mới, thiết bị y tế công nghệ cao cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ứng dụng công nghệ số.
Với cách tiếp cận tổng thể như vậy, chúng ta sẽ hiện thực hóa được tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 10, đó là "sàng lọc tinh chất" vốn đầu tư nước ngoài, chuyển sang chủ động lựa chọn các dòng vốn công nghệ cao, có tính lan tỏa, tạo liên kết chặt chẽ để nâng tầm doanh nghiệp nội địa, hướng tới mục tiêu tự chủ chiến lược và phát triển bền vững.