Lập pháp

Gỡ nút thắt thể chế trong bảo vệ môi trường, tạo nền tảng cho phát triển bền vữngBài 2: Gỡ nút thắt về thủ tục hành chính

Nhật An 14/06/2026 07:24

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang quyết liệt đẩy mạnh cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và khơi thông nguồn lực cho phát triển, việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường mà còn kịp thời tháo gỡ những rào cản không cần thiết đang làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian thực hiện dự án. Trong đó, một trong những nhóm vấn đề được phản ánh nhiều nhất là sự chồng chéo, trùng lặp của một số thủ tục môi trường.

Những vướng mắc từ thực tiễn

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo bước chuyển quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính khi tích hợp nhiều loại giấy phép thành giấy phép môi trường; phân nhóm dự án theo mức độ tác động môi trường; đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền và thay thế thủ tục “kế hoạch bảo vệ môi trường” bằng thủ tục “đăng ký môi trường”. Qua đó, giúp cắt giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời giảm tải đáng kể khối lượng công việc cho các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư vẫn gặp khó khăn trong quá trình thực hiện các thủ tục về môi trường.

Phản ánh với Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đại diện Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) cho biết, các dự án dầu khí hiện chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Dầu khí, Luật Đầu tư và pháp luật về bảo vệ môi trường. Sự thiếu thống nhất giữa các quy định pháp luật khiến nhiều dự án phải thực hiện các quy trình thủ tục lặp lại, kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư.

Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) Phan Tử Giang phát biểu
Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) Phan Tử Giang phát biểu tại cuộc làm việc với với Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Ảnh: Khánh Duy

Theo PVN, trong một số trường hợp, chỉ với những điều chỉnh kỹ thuật như khoan bổ sung một số giếng dầu theo cập nhật kế hoạch phát triển mỏ, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện lại quy trình đánh giá tác động môi trường gần như đối với một dự án mới.

Về quản lý dựa trên mức độ rủi ro, PVN cho rằng, việc phân loại dự án dầu khí ngoài khơi vào nhóm I - nhóm có nguy cơ tác động xấu đến môi trường - khiến doanh nghiệp phải thực hiện cả đánh giá tác động môi trường sơ bộ và đánh giá tác động môi trường chi tiết, làm gia tăng thời gian và chi phí không cần thiết. Do đó, đại diện PVN kiến nghị cần xếp dự án dầu khí ngoài khơi sang nhóm II nhằm giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị đầu tư mà vẫn bảo đảm an toàn môi trường, dựa trên dữ liệu quan trắc 30 năm qua của ngành dầu khí.

Cũng theo đại diện PVN, đối với các dự án ngoài khơi, mỗi ngày chậm trễ có thể đồng nghĩa với những tổn thất tài chính rất lớn khi chi phí thuê giàn khoan lên tới khoảng 100.000 USD/ngày.

Bên cạnh đó, sau khi thực hiện phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường về địa phương, một số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh còn lúng túng trong việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ đối với các dự án dầu khí ngoài khơi có tính chất đặc thù về kỹ thuật, quy mô và phạm vi hoạt động. Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ nhiều lần, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục.

Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn phát biểu
Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn phát biểu tại cuộc làm việc với Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Ảnh: Hồ Long

Những khó khăn tương tự cũng được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phản ánh với Đoàn công tác. Theo EVN, trong quá trình cấp giấy phép môi trường, nhiều hồ sơ vẫn bị yêu cầu bổ sung các nội dung liên quan đến đất đai, xây dựng hoặc đầu tư dù những nội dung này đã được xem xét theo quy định của các luật chuyên ngành khác.

Thậm chí, có trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép môi trường chỉ vì thời hạn sử dụng đất thay đổi, trong khi công nghệ, công suất và nguồn thải hoàn toàn không thay đổi.

Qua phản ánh từ thực tiễn có thể thấy, "điểm nghẽn" hiện nay không nằm ở yêu cầu bảo vệ môi trường hay các tiêu chuẩn môi trường quá cao. Bản chất của vấn đề là sự giao thoa giữa nhiều hệ thống pháp luật; cách phân loại dự án trong một số trường hợp chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro môi trường thực tế; đồng thời vẫn tồn tại những thủ tục được thực hiện lặp lại dù không làm thay đổi đáng kể nguy cơ tác động đến môi trường.

Nói cách khác, nhiều thủ tục vẫn đang tập trung vào kiểm tra hồ sơ, giấy tờ và quy trình, trong khi chưa phân biệt rõ giữa những thay đổi có khả năng làm gia tăng rủi ro môi trường với những thay đổi chỉ mang tính kỹ thuật hoặc hành chính.

Các thành viên Đoàn công tác cũng cho rằng, nếu mọi dự án đều phải áp dụng cùng một quy trình quản lý bất kể mức độ tác động đến môi trường khác nhau thì chi phí tuân thủ sẽ tăng lên, trong khi hiệu quả quản lý chưa chắc được cải thiện tương ứng.

Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm

Từ thực tiễn đó, nhiều kiến nghị đã được đưa ra đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi phát biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: Thanh Chi
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi phát biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: Thanh Chi

Đối với lĩnh vực dầu khí, doanh nghiệp đề nghị rà soát, bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Bảo vệ môi trường, Luật Dầu khí và Luật Đầu tư; đồng thời đơn giản hóa thủ tục đối với các dự án có tính chất đặc thù ngoài khơi.

PVN cũng kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh cách phân loại dự án theo hướng phản ánh đúng mức độ rủi ro môi trường thực tế thay vì chủ yếu dựa trên quy mô diện tích sử dụng mặt biển. Theo doanh nghiệp, việc quản lý dựa trên dữ liệu quan trắc và mức độ tác động thực tế sẽ phù hợp hơn với đặc thù hoạt động dầu khí ngoài khơi.

Đối với ngành điện, EVN đề nghị tập trung nội dung giấy phép môi trường vào các yếu tố cốt lõi như nguồn thải, công trình xử lý chất thải, điều kiện xả thải và các yêu cầu quan trắc môi trường; hạn chế tình trạng giấy phép môi trường trở thành "một thủ tục kiểm tra lại toàn bộ tính pháp lý của dự án".

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, cần tiếp tục rà soát để loại bỏ các thủ tục trung gian không tạo thêm giá trị quản lý; đồng thời tăng cường trách nhiệm tự tuân thủ của doanh nghiệp và hiệu quả kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.

Theo các đại biểu Quốc hội và cơ quan soạn thảo, mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường lần này không phải là "nới lỏng" yêu cầu bảo vệ môi trường, hay "hạ thấp" các tiêu chuẩn môi trường. Điều quan trọng là đổi mới phương thức quản lý.

Nếu trước đây công tác quản lý môi trường chủ yếu dựa vào tiền kiểm với nhiều thủ tục được thực hiện trước khi dự án triển khai, thì dự thảo Luật đang định hướng chuyển mạnh sang hậu kiểm, tập trung vào kiểm soát kết quả thực tế của hoạt động bảo vệ môi trường.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành phát biểu. Ảnh: Khánh Duy
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi nhấn mạnh, pháp luật không chỉ phục vụ mục tiêu quản lý mà còn phải tạo lập không gian phát triển mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cũng khẳng định, một trong những định hướng lớn của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường là giảm thủ tục hành chính; không chỉ phân cấp, phân quyền mà còn cắt bỏ những thủ tục không cần thiết. Cùng với đó là thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác quản trị môi trường nhằm nâng cao năng lực quản lý cho các địa phương.

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường lần này vì vậy không đơn thuần là "cắt giảm một số thủ tục hành chính". Xa hơn, đây là bước chuyển từ tư duy quản lý dựa trên thủ tục sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro và hiệu quả thực tế.

Như khẳng định của đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, dự thảo Luật chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các công trình, dự án nhằm bảo đảm vận hành hiệu quả nhưng không để các quy định về bảo vệ môi trường trở thành "rào cản" cho phát triển. Khi đó, pháp luật về môi trường không chỉ thực hiện chức năng kiểm soát mà còn trở thành một trong những động lực thúc đẩy phát triển bền vững.

Nhật An